Friday, September 24, 2010

Wednesday, December 30, 2009

Tuesday, October 27, 2009

Sổ Tay Chủ Nhiệm Việt Herald Bùi Bích Hà / Viết Về Bài Viết Kẻ Phản Bội của Lữ Giang - Tú Gàn - Cựu Thẩm Phán Nguyễn Cần



Nhìn lại các nhân vật lịch sử
Bùi Bích Hà
Nhìn lại các nhân vật lịch sử là một việc làm bình thường trong những xã hội tự do, xuất phát từ một động cơ phức tạp, bao gồm lòng yêu nước, sự băn khoăn về những câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng về một hay nhiều biến cố xảy ra vào một thời điểm nào đó, căn cứ trên sự diễn dịch tài liệu lịch sử dưới lăng kính lý tưởng với ít nhiều chủ quan của người muốn nhìn lại, được tích lũy và tôi luyện qua thời gian. Ðây là định nghĩa tích cực nhất nhưng cũng có những cách nhìn thiếu công chính, được dẫn dắt bởi tư kiến mà khi đặt vấn đề, người viết tin vào nhận định của mình dựa trên sự đồng thuận của một số người cùng quan điểm.


Mục Phiếm luận trên nhật báo Việt Herald ngày 13 tháng 10 năm 2009, có khởi đăng một bài ba kỳ, nhan đề Kẻ Phản Bội, tác giả Lữ Giang, nhằm chỉ đích danh cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu của nền đệ nhị cọng hòa miền nam Việt Nam.

Phần mở đầu bài viết với văn phong thô bạo, trích dẫn lời phát biểu bất xứng của vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ lúc đó là đồng minh của Việt Nam trong cuộc chiến chống cọng sản, đã gây xúc động và bất bình cho độc giả, khiến bài viết không còn mang tính xét lại lịch sử một cách trung thực mà là bản cáo trạng dành cho một người đã qua đời, không còn tiếng nói để biện minh, làm sáng tỏ sự việc.

Ðể tôn trọng sự công chính cần có khi đánh giá các nhân vật lịch sử, thiết nghĩ có 2 vấn đề cần nêu ra xung quanh bài viết của tác giả Lữ Giang:

1.- Ðịnh nghĩa thế nào là Kẻ Phản Bội? Ðịnh nghĩa này có ứng dụng cho trường hợp cố Tổng Thống VNCH Nguyễn văn Thiệu hay không?

2.- Kẻ phản bội, trong cách nhìn của tác giả Lữ Giang, đã phản bội cái gì, phản bội ai?

Phản bội nghĩa là bỏ lời hứa, nuốt lời thề, quay lưng lại đất nước, bạn bè, đồng chí, người tình...chối bỏ những cam kết đã làm.
Nếu định nghĩa như thế, kẻ phản bội đưa đến việc mất miền Nam VN, kéo theo những hậu quả thảm khốc mà người dân miền Nam phải gánh chịu, chính là ông đồng minh siêu cường của cả cái miền Nam bất hạnh của chúng ta chứ không phải ông Thiệu.
Trong hoàn cảnh “bị hy sinh” của ông Thiệu ngày ấy, ai dám vỗ ngực sẽ làm hay hơn ông Thiệu? Hay là tác giả muốn nói ông Thiệu đã phản bội cụ Diệm khi tham gia chiến dịch đảo chánh vì ông từng được cụ Diệm tin cậy, sủng ái và cất nhắc mà bây giờ thân chinh đem quân về vây khốn dinh Ðộc Lập? Một dân tộc nhược tiểu luôn có nhiều nỗi oan khiên. Học sử Việt Nam, chắc không ai quên chuyện Trọng Thủy/Mỵ Châu. Tục ngữ nước ta có câu “hùm dữ không nỡ ăn thịt con,” nhưng lịch sử ca ngợi vua An Dương Vương xuống gươm xử con gái tội chết vì cô xem trọng tình riêng hơn nợ nước.

Cuối thế kỷ 20, nền đạo lý hủ nho cổ xúy nguyên tắc “trung thần bất sự nhị quân” hay “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung,” đồng hóa người lãnh đạo tối cao với tổ quốc và quyền lợi của dân tộc, đã cáo chung.
Năm 1954, do sự sắp đặt của các thế lực ngoại bang, chí sĩ Ngô Ðình Diệm về nước chấp chánh vai trò thủ tướng dưới chính thể quốc trưởng Bảo Ðại rồi lật ngược thế cờ, thiết lập nền đệ nhất cộng hòa, trở thành vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam qua môït cuộc bầu cử với nhiều bất lợi cho cựu hoàng Bảo Ðại. Tầng lớp dân chúng cao niên trong đó có phụ thân kẻ viết bài này, còn chịu ảnh hưởng nho học sâu đậm, cảm thấy ngậm ngùi, chua chát, với ý nghĩ quân vương bị phản bội.
Tuy nhiên, thực tế sau đó cho thấy, chính trường mở màn với kịch bản mới viết cho Việt Nam. Người Mỹ thay tay người Pháp cầøm chịch ở phía nam vỹ tuyến 17 và thông qua công cuộc giúp ổn định đời sống cho hơn một triệu người miền bắc lìa bỏ quê hương, di cư để lánh nạn cọng sản, chính phủ của cụ Diệm đã chứng tỏ một cách hùng hồn chân lý trong câu luận về thế sự “thế Chiến quốc, thế Xuân thu, thời thế thế, thế thời phải thế.”Nếu chuyện đời ví như một sân khấu (tạo hóa gây chi cuộc hí trường- bà huyện Thanh Quan,) mỗi nhân vật mang cân đai áo mão có một thời xuất hiện để đảm đương một vai trò rồi biến mất khi tấm màn nhung buông xuống, thì cụ Diệm hay ông Thiệu là những diễn viên được số phận tuyển chọn cho tấn bi kịch hai hồi, hai màn, trải dài hơn hai thập niên máu lệ đau thương, hết do mẫu quốc Pháp lại do siêu cường Mỹ đạo diễn.
Cả hai đều ý thức sâu xa về vị thế của họ trong bàn tay bọc nhung của ngoại nhân, hứa hẹn nhiều bất trắc và tủi hổ, đã cố gắng mỗi người một cách, vừa đu giây với tinh, vừa lo công việc bảo quốc, an dân và xây dựng tiềm năng đất nước trong khả năng của mỗi vị. Ðau đớn thay, dù vùng vẫy cách nào, cả hai đều chịu chung một kết cuộc: bị loại bỏ không nương tay, người này không đáp ứng hướng dẫn của đạo diễn muốn thay đổi vở tuồng, người kia khi đạo diễn cần chém vè, đóng cửa, rút cầu, bỏ ngang trò chơi.Sự thực liïch sử nay đã phơi bày tỏ tường. Giờ đây, quan niệm cụ Diệm phản bội Quốc Trưởng Bảo Ðại, ông Thiệu (và hội đồng tướng lãnh) phản bội cụ Diệm, là vẫn chưa nhận chân thật rõ bản lai diện mục của “bộ máy đầu não” phản bội đáng sợ, vận hành với một quyền lực vĩ đại, không phục vụ nhu cầu nào khác hơn quyền lợi của cái đất nước mà nó được sản sinh và đại diện.Giả dụ có tạm chấp nhận quan niệm mang ít nhiều cảm tính do những liên hệ ân tình khắc ghi nói trên, cả cụ Diệm lẫn ông Thiệu, khi thời cuộc đưa đẩy họ vào vai diễn, họ biết phải chấp nhận trả giá bằng chính sinh mạng của họ, thậm chí, của cả thân nhân, gia đình họ. Quyết tâm dũng cảm ấy khi tổ quốc đòi hỏi, dù không xoay chuyển được thời cơ, cũng rất đáng ngưỡng mộ.
May mắn lắm nhưng cũng cay đắng lắm, ông Thiệu thoát đi, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Phần đời còn lại, như hổ mất rừng, ông sống những tháng ngày mất quê hương, anh em, chiến hữu, chịu đựng tai tiếng, gậm nhấm căm hờn và phiền muộn không cách nào tỏ lộ.Có một số thuộc cấp của ông Thiệu, cho rằng ông đã cư xử bất xứng khi ra đi, bỏ lại anh em, đồng đội sau này bị thế lực mới đầy đọa, sát hại. Họ cũng đặt câu hỏi thẳng thừng: “Sao ông không tuẫn tiết như năm vị tướng anh hùng, chiến hữu của ông, ít nhất để bảo toàn danh dự của tướng khi thành rơi vào tay giặc?” Triết gia Jean Paul Sartre có nói:
“Être c’est être en situation,”
con người luôn gắn liền với hoàn cảnh trong đó nó hiện diện.

Xét một người, không thể tách người đó ra khỏi hoàn cảnh của họ vì như thế sẽ đưa đến những phán đoán có tính giả tưởng. Trong biến cố 30/4/75, chúng ta có 5 vị tướng tuẫn tiết, không hàng giặc và chỉ lìa bỏ thuộc cấp bằng cái chết. Toàn dân ngưỡng mộ. Thế giới ngưỡng mộ. Kẻ thù ngưỡng mộ. Thế nhưng, với tiết tháo cương cường đó, với nhân cách vĩ đại đó, nếu như các vị không lựa chọn cái chết, hẳn là khối người Việt di tản đã có được những lãnh đạo xuất sắc và đã có một bộ mặt khác.
Thương tiếc người chết làm đẹp những trang sử mười phần, thương tiếc sự sống quý giá bị mất đi muôn vạn phần.
Qua những biến động lịch sử cuối thế kỷ 20 kết thúc bằng việc mất miền Nam, bài học Lê Chiêu Thống cầu viện bắc phương được nhắc lại, tô đậm thêm, dạy cho một dân tộc nhược tiểu biết con đường duy nhất để thoát ra khỏi thân phận là tinh thần tự lập, tự cường, tạo nên sức mạnh tập thể.
Sức mạnh ấy không bao giờ hình thành nếu không có nền tảng căn bản là sự đoàn kết. Tổ tiên người Việt chúng ta để lại không biết bao bài học giá trị về đoàn kết, từ câu chuyện bó đũa trong Quốc Văn giáo khoa thư đến di sản ca dao tục ngữ

Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao;
Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau...

Ðể thực hiện đoàn kết, mỗi cá nhân cần ý thức mình chỉ là một hạt cát trong cả bãi cát, một viên gạch nhỏ nhoi trong triệu triệu viên gạch xây lên bức tường kiên cố và to lớn, cần thiết và có ý nghĩa khi hiện diện bên những viên gạch khác, ngoài ra, sẽ vô dụng khi lăn lóc một mình. Ðoàn kết là đem cái chung nhập vào cái riêng, đem tự ngã nhập vào đại ngã, trong đó, mỗi thành viên phản chiếu nhau mà cùng sáng chói. Khiêm nhượng, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật, thương yêu và tôn trọng nhau là những yếu tố xi măng hàn gắn đoàn kết. Người viết tự hỏi có khi nào các nhà hoạt động cộng đồng hiện nay, trong cái tổ quốc VN nhỏ bé, lưu vong bên ngoài lãnh thổ, thành khẩn nhìn lại mình, xét xem đáp ứng được bao nhiêu những tiêu chuẩn công dân kể trên? Hay là vì hơn ba thập niên qua, chúng ta không có lãnh tụ nên khoảng trống này nuôi lớn tham vọng trong mỗi người? Hay là vì lần đầu tiên được sống, được nếm trải TỰ DO trong một xã hội thực sự tự do nên chúng ta lầm tưởng muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, kể cả nói và làm những điều gây thương tổn cho người khác? Chúng ta quen chỉ tay vào người bên cạnh thì làm sao thấy khuyết điểm của mình mà sửa? Có phải nỗi thất vọng triền miên vì bế tắc, trong buổi chiều tà, làm nảy sinh tâm lý bực dọc, căm phẫn, khiến nhìn đâu cũng thấy những bộ mặt đáng ghét, đáng lãnh nhận búa rìu về mỗi mỗi lỗi lầm, hoặc bé xé ra to, làm cho lớn lên hoặc ngay cả bị gán ghép?Chao ôi, vì bất cứ lý do gì, không loại bỏ lý do có cả bàn tay phá hoại của nghị quyết 36 của cọng sản, nếu người Việt hải ngoại giờ đây vẫn không nhận ra hiện tượng cộng đồng thiếu đoàn kết chính là thất bại đau đớn nhất của tất cả chúng ta trên trận tuyến chống cộng sản, nhân danh những giá trị cao quý nhất đời người thì, rõ ràng, chúng ta đã thua kẻ thù một nước cờ nữa mà lần này, làm gì còn đồng minh phản bội, cũng làm gì còn cụ Diệm hay ông Thiệu để trút tội lên đầu họ?

Trở lại bài “Kẻ Phản Bội” của Lữ Giang, khi đặt vấn đề đánh giá một nhân vật lịch sử mà tiên quyết đã gán ngay cho nhân vật ấy một cái nhãn hiệu là sai ngay từ con chữ đầu tiên. Nếu tác giả không nhằm đánh giá lại mà nhằm hạch tội thì lại càng sai hơn nữa vì, thứ nhất, bị cáo không có mặt để lên tiếng; thứ hai, thay vì tập hợp tài liệu, phân tách nghiêm chỉnh, rút ra một kết luận khách quan và công chính để đóng góp kinh nghiệm ứng xử cho người sau thì dùng ngôn từ bất xứng, do cảm tiùnh xô đẩy để gây thêm ngộ nhận, miệt thị một tổng thống, một tổng tư lệnh quân đội của đất nước mà tác giả từng sống và làm việc với tư cách một công chức cao cấp trong chính phủ do tổng thống ấy lãnh đạo, người viết tin chắc rằng ngoài Lữ Giang ra, trên địa cầu này khó có người thứ hai, kể cả trong khối cọng sản mà phía quốc gia thường cho là thấp kém, bất nhân, ăn cháo đá bát.

Cho nên, tự do luôn đi kèm với đạo đức và trách nhiệm. Nói cái gì, nói như thế nào hay nói cho sướng miệng, bộc lộ đạo đức và trách nhiệm của người nói. Có nghe không, nghe như thế nào hay nghe cho thỏa ý riêng, bộc lộ phong cách, trình độ của người nghe và đây chính là nguồn gốc giúp định hình một nền tự do ngôn luận có phẩm chất.

Bùi Bích Hà
24/10/09


Monday, October 12, 2009

Viết Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu / Nguyễn Kỳ Phong

Húy Nhật lần thứ 8 / Southern California U.S.A.

Nguyễn Kỳ Phong
Vài Ý Nghĩ về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Sau khi Việt Nam Cộng Hòa thất thủ, vai trò của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (TTT) như một nguyên thủ lãnh đạo quốc gia được đem ra phê phán. Vài ý kiến cho rằng vì TTT quá tin vào người Mỹ nên miền Nam rơi vào tay cộng sản. Về vai trò lãnh đạo, một số ý kiến nói tại TTT độc tài, nắm giữ hết quyền điều binh khiển tướng, chỉ huy quân đội thẳng từ dinh Ðộc Lập, nên gây ra nhiều sự bất mãn cho các cấp tướng lãnh trong những năm sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hai phê phán về TTT ở trên có lý do và giá trị để được luận bàn. Dựa vào một số tài liệu của Hoa Kỳ viết về TTT đã được giãi mật trong thời gian qua, bài viết ngắn dưới đây ghi lại một số sự kiện về liên hệ cá nhân của TTT với người Mỹ; và, về đường lối quản trị quốc gia của TTT như một nhà lãnh đạo.


Liên Hệ Cá Nhân Với Hoa Kỳ


Tổng Thống Thiệu có quá tin người Mỹ không? Căn cứ vào những hồ sơ được giãi mật, TTT chẳng những không tin người Mỹ, trái lại lúc nào ông cũng nghi ngờ và lo sợ về đường lối của Hoa Kỳ đối với Việt Nam ; và đối với ông như người lãnh đạo quốc gia. Từ khi bắt đầu giao thiệp, TTT đã có thái độ e dè, nếu không nói là bất thiện cảm đối với người Mỹï. Trong một báo cáo tóm lược về cá nhân TTT do Nha Tình Báo Quốc Phòng (Defense Intelligence Agency/ DIA) viết vào tháng 7-1968, họ nhận xét ông Thiệu là người chống cộng (anti-communist) nhưng đồng thời cũng “chống Mỹ.” Nguyên văn trong báo cáo là, “… Thieu is anti-United States.” Câu đó cũng có thể hiểu là “không thích Hoa Kỳ" hơn là theo nghĩa thông thường “chống Mỹ.” (xem phóng ảnh tài liệu 3-1) Cũng trong báo cáo đó, DIA cho biết thái độ chống Hoa Kỳ của ông Thiệu đã được ghi nhận từ tháng 2-1964, và chính ông Thiệu cũng tự nhận thái độ của ông đối với người Mỹ. Trong báo cáo tháng 7-1968, sau khi nói về thái độ của Tổng Thống Thiệu trước đó (trước báo cáo tháng 7-1968), người báo cáo viết, hiện tại ông Thiệu chú trọng đến sự phối hợp sát cánh đường lối của Hoa Kỳ và Việt Nam, để Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ miền Nam.

So với những báo cáo khác, báo cáo của tháng 7-1968 nói tốt, nhưng chỉ nói một cách tổng quát về TTT. Nhưng qua tất cả những tài liệu phân tích về tâm tính TTT mà người viết này đã đọc qua, người viết có thể nói Hoa Kỳ không hiểu nhiều về ông Thiệu: phần lớn họ chỉ đoán về ông, dựa vào báo cáo của những cộng sự viên hoặc bạn đồng ngũ trong quá khứ. Báo cáo đến từ CIA, DIA, và Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, xử dụng nhiều tỉnh từ như khôn vặt, cáo già, mưu mô, cunning, intelligent, shrew, efficient ... để tả cá tính TTT. Nhưng sau cùng, báo cáo vẫn kết luận họ không đoán được suy nghĩ và hành động của ông Thiệu, hay có thể gây ảnh hưởng với ông như họ đã làm với những thẩm quyền Việt Nam khác. Ngược lại, trong một vài lần mặt đối mặt với nhiều thẩm quyền Hoa Kỳ, TTT bỏ đi cá tính thông thường của ông — cá tính thông thường là sự dè dặt khi được hỏi ý kiến, và nghe nhiều hơn nói — và đặt nhiều câu hỏi khiến cho người đối diện rất lúng túng. Qua những lần như vậy, giới hữu trách Mỹ thấy ông Thiệu biết nhiều chuyện họ làm nhưng ông làm như không biết. Dựa vào những tài liệu đã trích, chúng ta thấy cố TTT không hoàn toàn tin vào người Mỹ trong suốt sự nghiệp chính trị của. Ông chỉ dựa vào người Mỹ để đạt được những mục đích ông muốn. Và một trong những mục đích ông muốn thấy, là sự trường tồn của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Nếu TTT có tin vào người Mỹ, thì ông không còn chọn lựa nào hơn là phải tin — và người duy nhất ông phải tin là cố Tổng Thống Richard M. Nixon.

Theo một sử gia của cơ quan CIA viết trong CIA and the Generals: Covert Support to Military Government in South Vietnam, Hoa Kỳ chỉ thật sự tìm hiểu và cố gắng bắt liên lạc với TTT từ tháng 7-1967, sau khi một số tướng lãnh quan trọng trong Hội Ðồng Quân Lực đồng ý cho ông Thiệu ra tranh cử tổng thống và ông Nguyễn Cao Kỳ, phó tổng thống, trong liên danh quân đội duy nhất vào cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa. Những báo cáo của DIA, CIA, và của Ðại Sứ Ellsworth Bunker gởi về Hoa Thịnh Ðốn cho thấy tin tức tình báo Mỹ có thể biết nhiều về ông Kỳ, hay những thẩm quyền VNCH khác, nhưng họ hoàn toàn không biết gì về ông Thiệu — hay ý định của ông Thiệu trong tương lai xa, gần. Một thí dụ khác về sự hiểu biết của người Mỹ về cá nhân ông Thiệu: Trong buổi thuyết trình cho Tổng Thống John F. Kennedy ngày 28 tháng 8-1963, khi nói về hai phe ủng hộ và chống Tổng Thống Diệm, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu được ghi nhận là "người Công Giáo, ủng hộ ông Ngô Ðình Nhu," và đang có thái độ ủng hộ chánh phủ của Tổng Thống Diệm Một báo cáo khác đến từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (dĩ nhiên tin tức đến từ Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn) đề ngày 30 tháng 10-1963 — hai ngày trước khi đảo chánh — trong đó vẫn ghi thái độ của chỉ huy trưởng Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (Ðại Tá Thiệu) “vẫn chưa xác định được.” Ðiều này cho thấy sự kín đáo của ông Thiệu về thái độ đối với mọi người chung quanh. Căn cứ vào sử liệu sau ngày đảo chánh 1 tháng 11-1963, chúng ta biết chắc chắn ông Thiệu đã đòi hỏi, hay được hứa hẹn, khi tình nguyện tham gia đảo chánh. Vì nếu ông Thiệu không đòi hỏi được tưởng thưởng xứng đáng thì ông đã không tình nguyện dùng đơn vị của ông tấn công các điểm kháng cự ở dinh tổng thống.

Dưới mắt một số người Mỹ, TTT là một người dè dặt, cẩn thận và kín đáo. Dưới mắt một số người khác thì TTT có tánh bài ngoại (xenophobia) ; và sự ngờ vực về người Mỹ đã làm cho ông luôn luôn lo sợ một cách vô lý (paranoia) (những từ xenophobia, paranoia là nguyên văn trong bản báo cáo). Sự nghi ngờ của TTT về đường lối và chủ đích của Hoa Kỳ ở Việt Nam không phải không có lý do. Từ sau cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm 1963 cho đến khi ông Thiệu trở thành tổng thống, ông Thiệu chứng kiến nhiều kế hoạch bí mật mà người Mỹ đã xử dụng để khuynh đảo nội tình Việt Nam. Những kế hoạch "kín" của CIA nói riêng, và của đường lối của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói chung, không nhất thiết phù hợp với đường lối của chánh phủ VNCH. Trong cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, từ năm 1967 TTT đã chứng kiến áp lực của Hoa Kỳ khi họ quyết định "xé lẽ" và liên lạc riêng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Với lý do là họ muốn xâm nhập nhân sự bên trong cơ cấu MTGPMN, người Mỹ yêu cầu thẩm quyền VNCH thả một số nhân sự quan trọng của MTGPMN mà VNCH đang cầm tù. Thẩm quyền Hoa Kỳ lần lược làm áp lực với tướng Nguyễn Ngọc Loan, tướng Kỳ, và tướng Thiệu cho đến khi chánh phủ VNCH thoả mãn một phần đề nghị của họ.

Sau khi Ðại Tướng Nguyễn Khánh bị lưu đày ra khỏi nước vào tháng 2-1965, Hoa Thịnh Ðốn và phần lớn các thẩm quyền Mỹ ở Việt Nam đều ủng hộ Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ như một nhà lãnh đạo thay thế tướng Nguyễn Khánh. Nhưng người Mỹ bị ngỡ ngàng và bối rối sau khi Hội Ðồng Quân Lực chấp thuận liên danh tổng thống-phó tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ trong năm bầu cử 1967. Biến cố này làm người Mỹ sửng sốt vì khi nhóm ông Kỳ đồng ý để cho ông Thiệu làm tổng thống là chuyện không thể xảy ra — hay ít ra là người Mỹ đã không tiên đoán được điều đó. (Xem phóng ảnh 4-1. Ý kiến của tướng Loan khi ông Kỳ chịu đứng vai phó tổng thống là, ông Kỳ đã điên nên mới làm như vậy.).

Sau khi ông Thiệu trở thành tổng thống, người Mỹ dồn mọi liên lạc, xâm nhập, để tìm hiểu thêm về ông Thiệu. Nhưng tài liệu của CIA tự thú là họ thất bại. Khi không tìm được liên lạc để biết thêm về cá tính và đường lối suy nghĩ của TTT, CIA không còn cách nào khác hơn là phải xử dụng phương tiện bất chánh: nghe lén và thâu thập tin tức bằng phương tiện điện tử. Ðúng như vậy, trong tài liệu giãi mật mới nhất, CIA thú nhận trên giấy trắng mực đen là họ đã dùng phương tiện nghe lén để tìm hiểu, tiên đoán về ý định của TTT. Từ giữa năm 1968 trở đi, CIA xử dụng phương tiện nghe lén nhiều hơn khi TTT hoàn toàn củng cố thế lực và thay đổi hầu hết phe phái của ông Kỳ trong quân đội. Trước đó, tài liệu CIA cho biết họ thâu thập tin tức về nhân sự và đường lối của VNCH qua một số cộng sự viên và tướng lãnh chung quanh ông Kỳ. Nhưng từ tháng 6-1968 trở đi, sau khi một số sĩ quan thân cận với tướng Kỳ bị tử thương trong vụ bắn lầm ở Chợ Lớn; và khi ông Kỳ bị gởi qua Paris vào đầu năm 1969 để làm quan sát viên chánh phủ trong cuộc hòa đàm, CIA mất đi tất cả những liên lạc họ đang có để thâu thập tin tức về VNCH.

Không xâm nhập và gây ảnh hưởng được thẳng với ông Thiệu, CIA quay sang gây ảnh hưởng với hai cộng sự viên tin cẩn nhất của TTT: Trung Tướng Ðặng Văn Quang và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. CIA cho biết, đôi khi thẩm quyền Mỹ không thuyết phục được TTT, nhưng khi họ dùng ông Khiêm và tướng Quang “chuyển lời” thuyết phục, thì TTT lại nghe theo. “Dùng liên lạc từ tướng Quang để gây ảnh hưởng với TTT là phương thức hiệu quả nhất,” tài liệu CIA nhận xét như vậy. TTT biết CIA thâu âm và nghe lén bên trong Dinh Ðộc Lập. Ông cũng biết một số nhân viên chung quanh ông làm liên lạc viên cho CIA. Nhưng ông yên lặng, làm như không quan tâm. Trong thực tế, ông lợi dụng những phương tiện đó để “chuyển lời” lại với thẩm quyền Mỹ ý nghĩ thật của ông — và đôi khi ý nghĩ giaû dối để đánh lừa người Mỹ. CIA đi đến kết luận này vì qua nhiều trường hợp, ông Thiệu đã không giữ được sự tức giận và nói thẳng với thẩm quyền Mỹ những gì ông biết về hoạt động sau lưng của họ. ông đã nó thẳng với CIA là chẳng những họ đã dung túng, chứa chấp Thượng Tọa Thích Trí Quang trong khuôn viên tòa đại sứ, họ còn cung cấp ngân khoảng tài chánh, để cho thượng tọa huấn luyện thêm tín đồ đối lập với chánh phủ VNCH. Và sau hai lần bị áp lực thả tù nhân cao cấp của MTGPMN, ông Thiệu chua chát nói với người Mỹ, “Ðất nước này [VNCH] không tiến lên được, vì một đằng là sự xâm nhập của cộng sản Bắc Việt; đằng kia là sự xâm nhập của CIA vào cơ cấu chánh phủ [VNCH].” .

Về sự liên lạc bí mật của Mỹ với MTGPMN, ông Thiệu nói, “không chừng tòa đại sứ đang chứa chấp Việt Cộng mà tôi cũng không biết.” Thẩm quyền CIA rất lo ngại về những quan sát “quá đúng” của TTT. CIA lo ngại đến độ Trưởng Vụ Viễn Ðông của CIA, William E. Nelson, phải viết một báo cáo cho Giám Ðốc CIA, Richard Helms, khuyến cáo nhân viên của cơ quan nên cẩn thận với TTT. Vì một mai nếu có chuyện bất hòa giữa Hoa Kỳ và VNCH xảy ra — hay giữa TTT và CIA — TTT có thể tiết lộ tất cả chuyện làm của CIA cho công luận biết. Năm 1968 và 1969 là hai năm mà TTT và CIA/ chánh phủ Mỹ có nhiều va chạm. Chánh phủ Lyndon Johnson rất bực tức khi biết TTT đang ngấm ngầm ủng hộ ứng cử viên Richard Nixon qua trung gian bà Anna Chennault. Ngược lại, cũng từ affair đó, TTT được Ðại Sứ Bùi Diễm thông báo là Hoa Kỳ đã nghe lén hầu hết những đối thọai giữa các thẩm quyền VNCH, ở trong cũng như ngoài nước. Tài liệu CIA cũng cho biết trong hơn hai tháng cuối năm 1968 đầu năm 1969, TTT tự cắt đứt liên lạc với thẩm quyền Hoa Kỳ vì những lý do kể trên.

Năm 1969 liên hệ bất thân thiện giữa CIA và TTT gia tăng khi TTT ra lệnh truy tố Dân Biểu Trần Ngọc Châu ra tòa về tội liên lạc với cộng sản. Ông Trần Ngọc Châu không xa lạ gì với CIA Mỹ trong những năm 1965-67. Ông được sự cảm phục của CIA cho đến khi họ bị TTT trói tay. Khi còn là Tỉnh Trưởng Kiến Hòa, ông Châu là người phát họa ra kế hoạch Hệ Thống Khiếu Nại Xã Ấp (Hamlet Census-Grievance System) để áp dụng song song với Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn.

Hệ thống khiếu nại xã ấp cho phép người dân vừa thông báo với chánh quyền về những cán bộ Việt Cộng thâu thuế địa phương, đồng thời người dân cũng có thể khai báo cho thẩm quyền về những hành vi lạm dụng, mại quyền của viên chức chánh phủ xã ấp. Kiến Hòa cũng là nơi đầu tiên ông Châu cho phép CIA thành lập các toán tình báo-bán quân sự Thám Sát Tỉnh PRU (Provincial Reconnaissance Unit), để triệt tiêu hạ tầng cơ sở địch. Sau Kiến Hòa, ông Châu được đưa lên làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu. Nhưng vì không hợp và không thành công trong chức vụ này, ông Châu xin giải ngũ, rồi ứng cử dân biểu. Trong thời gian làm dân biểu, ông Châu liên lạc với CIA xin ngân quỹ để thành lập một lực lượng chánh trị (mục tiêu chánh trị của ông Châu là sẳn sàng đối thoại với thành phần không cộng sản của MTGPMN). Trong thời gian vận động, ông Châu có những tuyên bố ám chỉ ông được sự ủng hộ của CIA. ... Nghe những tuyên bố của ông Châu, với những bất thiện cảm về CIA, TTT quyết định “thấu cấy” ông Trần Ngọc Châu. TTT hỏi thẳng Trưởng Sở CIA Sài Gòn, Ted Shacley, là ông Châu có đang làm việc cho CIA hay không; và nếu chánh phủ bắt ông Châu về tội liên lạc với cộng sản, thì CIA có “vấn đề” gì không. Không thể giữ ông Châu và để mất lòng TTT, Ted Shackley trả lời TTT có toàn quyền đối xử với ông Châu.

Cũng trong năm 1969, CIA được dịp “trả miếng” lại TTT qua vụ Huỳnh Văn Trọng và Vũ Ngọc Nhạ. Cuối năm năm 1968 đầu năm 1969, CIA khám phá một hệ thống tình báo cộng sản đang hoạt động ở Sài Gòn. Từ đó họ phăng ra hai ông Trọng và Nhạ đang liên lạc và cung cấp tin tức cho cộng sản. Trưởng Sở CIA Ted Shackley thông báo cho TTT sẽ bắt giữ trọn ổ. Trong sự bàng hoàng, TTT yêu cầu CIA bắt giữ và giải quyết chuyện đó một cách kín đáo — vì nếu làm lớn chuyện, ông sẽ mắc cỡ với dân chúng là đã “nuôi ông tay áo” ngay tại trong Dinh Tổng Thống. Nhưng CIA không đồng đồng ý. Họ nói phải hành động theo ý họ và bắt trọn ổ, rồi đến đâu hay đến đó. Kế quả như chúng ta đã thấy, hơn 42 người liên hệ trong ổ gián điệp bị kết tội trước Tòa Án Quân Sự.

Dù với tất cả sự nghi ngờ và lo sợ về thái độ của người Mỹ, TTT vẫn phải nhờ vào sự ủng hộ của người Mỹ để củng cố quyền lực và đạt được những mục tiêu mà ông muốn thấy. Ðầu năm 1968, trong cao điểm cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Bắc Việt, uy thế và tín nhiệm của TTT xuống mức thấp nhất. Trong thời gian ông cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ — vừa chống cộng, vừa chống thế lực của ông phó tổng thống. Ðược dịp đối thoại với TTT, CIA đã tài trợ một ngân khoảng khá lớn (khoảng 100 ngàn mỹ kim một tháng, trong thời gian 18 tháng) để ông TTT mua chuộc các đảng phái đối lập, và gây ảnh hưởng chính trị ở Quốc Hội.

Từ năm 1970 trở đi, báo cáo về TTT chứa đụng nhiều dự đoán lạc quan với nhiều tĩnh từ tốt đẹp. Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy, người Mỹ chỉ làm bạn khi họ cần người bạn. Nếu sự thực tế đòi hỏi phải bỏ người “bạn,” phải thay đổi, thì họ phải quyết định theo tinh thần “pragmatism” của người Mỹ. Trong hai tháng cuối cùng năm 1972, TTT, sau khi nói thẳng vào mặt Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, là “Tại sao tôi phải tin ông?” Và, “Một tên Việt Cộng giao liên địa phương còn biết nhiều về những chi tiết thương lượng ở Ba Lê hơn tôi,” thì Hoa Kỳ đã quyết định kết thúc liên hệ của họ ở Việt Nam . Ông Thiệu tin vào những lời hứa cá nhân của Tổng Thống Richard Nixon khi ký Hiệp Ðịnh Ba Lê, không phải vì ông tin vị tổng thống Hoa Kỳ: Ông tin vì phải tin; vì không còn chọn lựa nào khác. Ông bị hăm dọa để tin vào người Mỹ. Ði kèm với những lá thư vừa khẩn khoản vừa hứa hẹn của Tổng Thống Nixon, là những áp lực rất khéo léo của Hoa Kỳ nhắm vào những “liên lạc” chung quanh TTT. Những nhân sự thân cận của TTT “được” cho đọc những báo cáo, tường trình, rất bi quan của Hoa Kỳ về tình hình quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ đối với VNCH trong tương lai gần. Rồi từ những liên lạc chung quanh TTT, Hoa Kỳ gia tăng áp lực hăm dọa. Với lối nói chuyện “cạn tàu ráo máng” của Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, dĩ nhiên TTT phải lo sợ và bối rối: lo sợ vì Hoa Kỳ có thể làm thật với những hăm dọa; bối rối vì VNCH không có nhiều thời giờ để xoay xở. Nhưng TTT vẫn giữ thái độ cứng rắn với Kissinger cho đến độ Kissinger thề sẽ không bao giờ trở lại Sài Gòn để nói chuyện nữa. Và VNCH — qua đại diện của TTT — cứng rắn với Hoa Kỳ cho đến khi không còn giải pháp nào khác. Nhân chứng và tài liệu cho biết, TTT đã đôi lần bật khóc trong lúc nói chuyện với Kissinger hay Ðại Sứ Bunker khi không giữ được sự tức giận — vì biết không thể làm gì được. Những lá thư riêng ông viết cho Tổng Thống Nixon là một bằng chứng cho thấy ông chỉ mong muốn Nixon giữ đúng lời hứa. Nhưng với nền luật pháp chặc chẻ của Hoa Kỳ, lời hứa riêng của một tổng thống không có giá trị gì.

Nhưng sự đau đớn và vô lý nhất — một vô lý không tưởng được — là sau một thời gian đôi bên cãi cọ, hăm dọa, nguyền rũa nhau và VNCH bị ép buộc phải ký hiệp ước chung với Hoa Kỳ. … Hiệp Ðịnh Ba lê 1973 vẫn không được chánh phủ Hoa Kỳ đưa ra Quốc Hộïi để phê chuẩn. Theo Hiến Pháp Mỹ, tổng thống có quyền ký bất cứ hiệp ước nào với bất cứ quốc gia nào. Nhưng hiệp ước chỉ giá trị như một trách nhiệm giữa Hoa Kỳ và quốc gia đối tượng; và của Hoa Kỳ đối với hiệp ước được ký. Trách nhiệm đưa hiệp ước ra Quốc Hội để được phê chuẩn là trách nhiệm của Hành Pháp (e.g.: Tổng Thống). Nhưng sử liệu cho thấy Tổng Thống Nixon đã không nhiệt tâm hay muốn cho Quốc Hội Hoa Kỳ thấy nội dung và những chi tiết của bản Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973.

Sau này khi VNCH thất thủ, Quốc Hội nói họ không có trách nhiệm ví họ không biết gì về nội dung bản hiệp ước. Về phía Hành Pháp, ông tân Tổng Thống Gerald Ford thì lại càng có lý do hơn, khi nói ông hoàn toàn không biết gì về những hứa hẹn giữa chánh phủ trước (chánh phủ Nixon) và VNCH. Trong khi đó, những giới chức đã phục vụ và liên lạc với chánh phủ TTT ở Sài Gòn thì chỉ biết … chữi đổng về chánh phủ mình. Nhưng tất cả những đổ thừa không còn thành vấn đề nữa: VNCH đã thất thủ. Kissinger và Nixon đã cố gắng giữ kín và bưng bít những chi tiết thương lượng với Hà Nội. Tài liệu giải mật của CIA cho thấy Kissinger gần như là độc tôn trong quyền hạn đại diện cho Nixon trong những thương lượng với VNCH và Bắc Việt. Tháng 8-1972, trước mặt Ðại Sứ Bunker, Kissinger ra lệnh cho Trưởng Sở CIA Sài Gòn, Thomas Pogar, không được tiết lộ về CIA Lang Ley những chi tiết về cuộc thương nghị mà CIA Sài Gòn biết được qua liên lạc họ có bên trong nhân sự MTGPMN. Câu nói của TTT “Một tên Việt Cộng giao liên địa phương còn biết nhiều về những chi tiết thương lượng ở Ba Lê hơn tôi,” có thể áp dụng luôn với các thẩm quyền Mỹ trong trường hợp này.

TTT không tin người Mỹ — hay cá nhân Tổng Thống Nixon — nhưng phải đi theo kế hoạch sau cùng với họ vì ông không còn chọn lựa nào thích nghi hơn. Những thẩm quyền như Ðại Tướng Abrams; Trưởng Sở CIA Sài Gòn Polgar; Ðại Sứ Bunker … đều kết luận Hoa Kỳ đã phản bội VNCH. Nhưng những nhân vật này phải thú nhận, chính họ cũng không tiên đoán được những gì đã xảy ra. Dưới mắt một sử gia hiện đại — đồng thời là cựu nhân viên CIA cao cấp — TTT đáng được ca ngợi khi ông đã làm tất cả những gì ông có thể làm được trong giai đoạn đó, trong hoàn cảnh đó.

Liên Hệ Với Các Tướng Lãnh VNCH

Một số tác giả Mỹ và Việt dùng tỉnh từ “khôn vặt” cho TTT. Khảo sát cuộc đời TTT, người viết không nghĩ TTT chỉ khôn vặt. Sự khôn ngoan của TTT cao hơn khôn vặt nhiều. Chỉ bảy năm sau ngày ra trường (1949-1956) ông đã trở thành chỉ huy trưởng một trường đào tạo sĩ quan (Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt). Với không hơn 18 năm quân vụ (tính đến ngày ông trở thành tổng thống), và tổng cộng 15 tháng thụ huấn quân sự (tổng cộng thời gian ở Võ Bị Huế; trường Coetquidan, Pháp; Tham Mưu Chỉ Huy, Hà Nội …), TTT phải là một người khôn hơn “khôn vặt” khi ông loại trừ những đối thủ chính trị và quân sự, để nắm quyền lãnh đạo quốc gia. Nhìn qua sự nghiệp chính trị của cố TTT, chúng ta thấy TTT có những đức tín cần thiết để “biết” mà sống.

Ít tuyên bố ngoài công cộng và kín đáo với những ý nghĩ hay kế hoạch, TTT có được tánh tốt cần thiết cho những quân nhân làm chánh trị trong bốn năm xáo trộn 1964-1967. Từ năm 1964 — sau khi tướng Nguyễn Khánh “chỉnh lý” và chiếm quyền từ tướng Dương Văn Minh — cho đến tháng 7-1967, ông Thiệu chứng tỏ được sự khôn ngoan so với các tướng lãnh trên và dưới. Trong khi hầu hết các tướng lãnh đàn anh hoặc bị giải nhiệm, lưu đày, hay giam lỏng, ông Thiệu dần dần lấy được sự tín nhiệm của đa số quân nhân qua sự kiên nhẩn và mềm mỏng khi giao thiệp. Nếu ông Thiệu đã xử dụng những mánh khoé về ngoại giao và chính trị để trở thành tổng thống vào tháng 10-1967, thì những mánh khoé đó phải hiệu nghiệm cho sự sống còn của giới tướng lãnh chính trị trong bốn năm xáo trộn 1964-67.

Không nhiều thì ít, chắc chắn tướng Thiệu phải có ý kiến về số tướng lãnh bị lưu đày hay bị giải ngũ — và tất cả các vị tướng đó đều thâm niên hơn ông về cấp bậc (lên cấp tướng trước, sau). Vị tướng cuối cùng, Nguyễn Hữu Có, thâm niên cấp bậc cùng ngày với ông Thiệu (lên thiếu tướng ngày 2 tháng 11-1963), trong một chuyến công du ở Ðài Loan năm 1967, bị bỏ lại và sau đó cấm trở về nước (đến tháng 1-1970 được chính tổng thống Thiệu cho phép hồi hương). Cuộc bầu cử năm 1967 là một thí dụ về sự ngôn ngoan của ông Thiệu. Trong cuộc bầu cử đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa, tháng 10-1967, cả hai ông Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (Thiệu) và Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Kỳ) đều muốn ứng cử tổng thống không ai chịu ứng cử như phó tổng thống. Cả quyết liệt đến độ tuyên bố sẽ tách ra đứng riêng liên danh tổng thống. Nhưng Hội Ðồng Tướng Lãnh không muốn thấy sự chia rẽ giữa hai người lãnh đạo quân đội. Và nếu ứng cử riêng liên danh, chưa chắc họ thắng được những liên danh dân sự. Ðầu tháng 7-1967, sau hơn 48 tiếng đồng hồ nghị luận giữa các tướng lãnh trong Hội Ðồng Quân Lực, hội đồng đề nghị hai người sẽ đứng chung liên danh: ông Thiệu, ứng cử tổng thống; ông Kỳ, phó tổng thống. Nhưng để đền bù lại, ông Kỳ sẽ có toàn quyền bổ nhiệm Thủ Tướng và các Tổng Bộ Trưởng của nội các; cũng như các tư lệnh quân sự trọng yếu. Ông Thiệu đồng ý và ký tờ cam kết với các tướng lãnh. Dưới mắt mọi người qua, với những điều kiện đó, ông Thiệu sẽ trở thành một tổng thống bù nhìn không thực lực. Nhưng nếu nhìn xa hơn, chúng ta thấy sự khôn ngoan của ông Thiệu: Chiếu theo Hiến Pháp, tổng thống lúc nào cũng có toàn quyền; hứa với nhau bằng miệng hay ký giấy cam kết không thay đổi được quy định của hiến pháp. Hơn nữa, với tánh tình rất bốc đồng, trong tương lai ông Kỳ sẽ mất đi nhiều đồng minh trong quân đội. Với suy luận đó, ông Thiệu tạm thời chịu “nhường,” và kiên nhẩn chờ thế lực của phía ông Kỳ suy tàn.

Triệt tiêu được thế lực của ông Kỳ, nhưng từ năm 1969 trở đi, TTT dấp phải một lỗi lầm về liên hệ trong hệ thống quân giai, về chiến lược và chiến thuật, khiến các sĩ quan tuớng lãnh không còn kính trọng ông như là một thủ lãnh. Ðể củng cố thế lực, năm 1968 TTT triệu hồi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm về nước, bổ nhiệm làm phó thủ tướng kiêm tổng trưởng nội vụ, rồi thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng sau khi Thủ Tướng Trần Văn Hương từ chức. Cùng năm, ông đưa tướng Ðỗ Cao Trí về làm Tư Lệnh Vùng III. Tháng 7-1970 ông ban hành một sắc lệnh, thay đổi cơ cấu quân sự trong tương quan giữa Bộ Tổng Tham Mưu và Quân Ðoàn/Quân Khu. Nói một cách khác, đến cuối năm 1970, các tướng lãnh đã “vào hàng” theo lệnh TTT.

Nhưng để bảo vệ quyền lực và phòng hờ những biến động có thể xảy ra, TTT tập trung quyền lực trong tay — về hành chánh cũng như về quân sự — hành động này đã gây những phẩn nộ ngấm ngầm trong giới quân đội. Sự lo sợ đảo chánh khiến cho TTT giữ lại một số tướng lãnh lẽ ra ông phải cho họ giải ngũ từ lâu. Cũng vì sợ đảo chánh, ông có những liên hệ với một số tướng lãnh mà qua sự quan sát bên ngoài, không hợp với quân phong, quân kỷ. Rất nhiều thí dụ cho thấy TTT bất cấn hệ thống quân giai và chỉ huy quân đội thẳng từ Dinh Ðộc Lập: Trong cao điểm của cuộc hành quân Lam Sơn 719, Trung Tướng Lãm xin được từ chức vì ông không đủ quyền lực và sự ủng hộ của TTT để ra lệnh cho hai tướng Dư Quốc Ðống và Lê Nguyên Khang. Cũng trong buổi họp đó, tướng Viên một lần nữa xin từ chức. Nhưng TTT không hành động. Không phải TTT có “vấn đề” khi cho hai vị tướng này giải ngũ; nhưng ông thấy khó tìm những sĩ quan khác trung thành với ông, để thay vào chổ của hai vị tướng này. Một thí dụ khác là khi ông ra quân lệnh bắt giữ Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai trong khi Quảng Trị thất thủ tháng 5-1972. Thay vì chỉ cần “đề nghị” với Tổng Tham Mưu Trưởng, hay Tư Lệnh Vùng truy tố tướng Giai theo đúng tinh thần của hệ thống quân giai, ông Thiệu đích thân ra quân lệnh từ Phủ Tổng Thống (xem phóng ảnh 5-1). Lối xử dụng quyền hạn như vậy gây nhiều bất mãn trong quân đội — một tổ chức chỉ trường tồn trong hệ thống quân giai nghiêm ngặc. Trong hai năm sau cùng của VNCH, quyền chỉ huy quân đội càng lúc càng bị thu gọn vào Dinh Ðộc Lập. Quân đội VNCH bị thất thế trước lối chống cộng mãnh liệt và quyết tâm của TTT: ông khăng khăng đòi hỏi quân đội — một quân đội càng ngày càng yếu vì thiếu viện trợ — phải triệt để bảo vệ Chủ Trương Bốn Không mà ông đã đề ra vài năm trước. Một không trong bốn không này là “không nhượng đất” cho cộng sản. Nhưng với số quân viện càng ngày càng ít hơn, khả năng cơ động của quân lực không còn nữa. Phí tổn để bảo vệ những tiền đồn ở xa trở nên quá tốn kém. Nhưng tổng thống Thiệu vẫn quyết liệt với chủ trương không nhượng đất — dù những phần đất không có một lợi ích gì về chiến thuật hay chiến lược. Khi VNCH mất Phước Long vào cuối năm 1974, tổng thống Thiệu có thay đổi đôi chút chủ trương không nhượng đất của ông. Nhưng đến lúc đó thì quá trể. Tháng 3-1975, sau khi CSVN chiếm Ban Mê Thuột, chỉ trong ba tuần tổng thống Thiệu đơn thân quyết định một số kế hoạch quân sự chiến lược vô cùng tai hại, để đưa đến sự thất thủ hoàn toàn của VNCH hơn một tháng sau. Sau khi Ðà Nẵng thất thủ vào cuối tháng 3, và ngay ngày ba sư đoàn CSBV đánh vào Xuân Lộc, Ðại Tướng Viên có làm một phiếu đệ trình lên TTT, xin phép thành lập một Quân Ðoàn Dã Chiến, với thẩm quyền điều khiển hai quân chủng Không Quân và Hải Quân. Người viết không tìm được sử liệu cho biết phản ứng của TTT về phiếu đệ trình của tướng Viên. Nhưng đến ngày 12 tháng 4 mà tướng Viên mới đề nghị như vậy thì quá trễ. Ðiều này cho chúng ta thấy: (a) Bộ Tổng Tham Mưu VNCH không có thẩm quyền như danh xưng, và (b) TTT thật sự điều khiển Quân Lực VNCH thẳng từ quyền lực tổng thống, bất chấp hệ thống quân giai. Một trong hai — hay cả hai — sự kiện đó có thể là những yếu tố đưa đến sự thất thủ của VNCH.

Người viết xử dụng một số báo cáo về TTT sau đây: Central Intelligence Agency. Office of Central Reference, Biographic Register: Chairman, National Directory Committee (24 June, 1965/ declassified 11-20-1986); Defense Intelligence Agency. Biographic Data: President Nguyen Van Thieu (July 1968/ declassified 8-2-1999); Ambassy SAIGON: Some Aspects of Personal Relations Among Senior RVAF Officers (August 15, 1971; declassified 8-20-2009). Người viết xin cảm tạ bạn Jay Veith — một chuyên viên về sử liệu chiến tranh Việt Nam và cũng là một tác giả — đã cung cấp tài liệu giải mật mới nhất về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mà người viết đã trích trong bày. “Cáo già,” “khôn vặt” là từ nguyên thủy dùng trong báo cáo tháng 8-1971.

Thomas L.. Ahern, Jr., CIA and the Generals: Covert Support to Military Government in South Vietnam (Center for the Study of Intelligence, Central Intelligence Agency, 2009). Ðây là tập tài liệu tối mật, viết sâu rộng về liên hệ của Hoa Kỳ với các thẩm quyền VNCH.

Ðại sứ Bunker, từ tháng 5-1967 đến tháng 5-1973, mỗi tuần viết một báo cáo về cho tổng thống Lyndon Johnson, và sau đó là Richard Nixon. Những báo cáo này — trừ đi một số vẫn chưa được giải mật — nằm trong bộ sách ba quyển, Douglas Pike, The Bunker Papers: Report to the President from Vietnam , 1967-1973 (University of California, Berkeley, 1990). Ðại sứ Bunker có nhiều ý kiến cá nhân về hai ông Thiệu, Kỳ, trong báo cáo. Trong 96 báo cáo hàng tuần người đọc thấy Ðại Sứ Bunker dần dần thay đổi ý kiến của ông về TTT: Từ những chỉ trích gay gắc ở những báo cáo đầu — mà trong dó có những tỉnh từ chỉ ông Thiệu như chơi xấu, tiểu nhân, không tôn trọng luật công bằng — nhưng đến giữa năm 1969, ông Bunker từ từ thay đổi nhận xét của ông về TTT, báo cáo viết với nhiều lời khen ngợi và tán tụng. Ngược lại, với sự trầm tỉnh hiếm có của một nhà ngoại giao, Ðại Sứ Bunker đã chinh phục được TTT. Giới thẩm quyền Hoa Kỳ ở Sài Gòn nhận xét là, chỉ có Bunker mới tuyết phục được TTT trong những giai đọan khó khăn giữa liên hệ Mỹ-Việt.

Central Intelligence Agency, Office of Current Intelligence, 28 August 1963, Subject: Cast of Characters in South Vietnam . McGeorge Bundy là người thuyết trình cho Tổng Thống Kennedy về những nhân vật chống và ủng hộ Tổng Thống Diệm đương thời.
Ðại Tá Thiệu được thăng cấp thiếu tướng một ngày sau khi đảo chánh thánh công. Theo hồi ký của Trung Tướng Trần Văn Ðôn, Việt Nam Nhân Chứng, ngày 2 tháng 11-1963, khi đến trình diện tướng Ðôn, ông Thiệu móc trong túi ra một cặp sao thiếu tướng và đưa cho Ông Ðôn. Ông Ðôn viết trong sách là ông ngạc nhiên khi thấy đại tá Thiệu có sẳn cặp sao trong túi. Ðại Tá Thiệu là một trong hai đại tá duy nhất được thăng tướng ngay sau ngày đảo chánh. Người kia là Ðại Tá Nguyễn Hữu Có. Mười giờ sáng ngày 2 tháng 11-1963, Tư Lệnh MACV Paul Harkins báo cáo về Tổng Tham Mưu Trưởng Ban Tham mưu Liên Quân Maxwell Taylor, là hai Ðại Tá Có và Thiệu đã được thăng cấp tướng. Nhưng cũng trong một báo cáo khác từ Harkins gởi về Maxwell 6:36 chiều cùng ngày, danh sách lên tướng có thêm tên Ðại Tá Lâm Văn Phát. Báo cáo về thái độ của Ðại Tá Thiệu nằm trong Foreign Relations of the U.S, Vietnam , August-December 1963, các trang 48, 509, 534. Hơn ba tháng trước đó, trong một báo cáo ngày 16 tháng 8-1963 do CIA soạn thảo (mà tác giả là William E. Colby), ghi nhận về Ðại Tá Thiệu “… Công Giáo, gốc miền Trung, ủng hộ Ngô Ðình Nhu và có thể trung thành với chế độ.” Ðọc Foreign Relations of the U.S. , Viêtnam, January-August 1963, trang 580.

Chánh phủ VNCH phóng thích một số nhân sự quan trọng của MTGPMN đang bị Cảnh Sát Quốc Gia VNCH giam giữ, trong đó có vợ của Trần Bạch Ðằng (Mai Thị Vàng) và Trần Bửu Kiếm (Phạm Thị Yến), và một số cán bộ giao liên. Ban đầu VNCH phản đối, nhưng sau cùng vì áp lực cũng phải cộng tác với Hoa Kỳ trong kế hoạch liên lạc với MTGPNM. Từ tháng 2-1967 cho đến tháng -1968, VNCH thả bà Vàng và bà Yến, cộng thêm 10 cán bộ giao liên phía bên kia. Ðổi lại, phía MTGPMN chỉ thả ba tù binh Hoa Kỳ. Sau cùng, kế hoạch này cũng không đi đến đâu. Nhưng tài liệu cho thấy CIA đã xâm nhập được một số nhân sự của MTGPMN, nhưng không biết phải từ kế hoạch này không.
Xem Ahern, sđd, trang 83-88.
Ahern, sđd dẫn, trang 82.
Ahern, sđd, trang 38. CIA nói từ tháng 8 đến tháng 12-1965, CIA cung cấp cho Thích Trí Quang 2.000.00 đồng (tương đương 12.500 mỹ kim giá đương thời).


William E. Nelson, Chief, Far East Division, Memorandum for the DCI [Director, Central Intelligence] , “President Thieu's Comment on the CIA,” 5 February 1969. Trích theo Ahern, sđd, trang 87. Khuyến cáo của Nelson đúng được phân nửa vào năm 1975, khi TTT tung ra công luận những trao đổi bí mật giữa ông và Tổng Thống Richard Nixon.

Về những liên lạc giữa Nixon-Chennault- Thiệu; và khả năng nghe lén của FBI, CIA, và Nha Truyền Tin Mật Mã Quốc Gia (National Security Agency), đọc Bùi Diễm, In the Jaws of History; William Bundy, Tangled Web; và, Thomas Powers, The Man Who kept the Secrets: Richard Helms and the CIA. Sự kiện (nghe lén) này cũng được giải mật và đăng trong, Foreign Relations of the United States : Vietnam , September 1968-January 1969.
Theo lời ông Châu, và cũng theo hồ sơ của CIA, ông Châu có liên lạc với người em là Trần Ngọc Hiền, một cán bộ cộng sản, từ năm 1964. Xem Thomas Ahern, sđd, trang 93-94.

Kisinger đến Sài Gòn bàn thảo về đề nghị của Hà Nội lần đầu tiên vào ngày 17 tháng 8-1972. Sau lần nói chuyện khai mào này, TTT ngưng liên lạc với thẩm quyền Mỹ hơn một tháng sau. Trưởng Sở CIA Sài Gòn kể lại là Kissinger nó thẳng với TTT, nếu Hà Nội chấp nhận ngưng bắn và thả tất cả tù binh Mỹ, thì Hoa Kỳ sẽ chấp nhận đề nghị của Hà Nội, bất chấp diễn tiến quân sự đang xảy ra tại miền Nam. Hà nội xử dụng lá bài tù binh Mỹ rất hiệu nghiệm trong lúc lúc thương nghị và sau khi Hiệp Ðịnh được ký. Ðọc Ahern, sđd, trang 117-118.

Giai đoạn sau cùng của VNCH và liên hệ giữa TTT và Hoa Kỳ không phải là chủ đề của bài viết. Về giai đọan này, đọc Larry Berman, No Peace, No Honor, Nixon, Kissinger, and Betrayal in Vietnam . Về những bức thư cam kết và hứa hẹn của Tổng Thống Richard Nixon, đọc Nguyễn Tiến Hưng and Jerrold Schecter, The Palace File. Cố Vấn Tổng Thống Nguyễn Phú Ðức, trong hồi ký The Viet-Nam Peace Negotiations: Saigon’s Side of the Story, kể lại qua những lần đối thoại với Kississinger và Nixon, ông thấy thẩm quyền Mỹ muốn nhắn với TTT là Hoa Kỳ sẽ chấp thuận bản đề nghị của Hà Nội, và sẽ phê chuẩn hiệp định trước năm 1972. Và Hoa Kỳ sẽ đơn phương làm chuyện đó nếu VNCH không chịu hợp tác theo lịch trình do người Mỹ định. Chữ đơn phương (unilateral) được nhắn mạnh và lập lại nhiều lần.

Sau lần đến Sài Gòn tháng 8, Kissinger trở lại một lần nữa vào ngày 20 tháng 10-1972. Sau lần này Kissinger thề không trở lại vì bị “lật tẩy.” Sau Kissinger, người đại diện cho Nixon là Thiếu Tướng Alexander Haig (năm 1972, Haig vẫn còn mang cấp bậc thiếu tướng). Nhưng như là một quân nhân, Haig nói chuyện rất thẳng thắng. Ông thông báo cho TTT biết, ông đến đây không phải để thương lượng, vì ông không có thẩm quyền thương lượng. Ông đến đây để cho TTT biết Hoa Kỳ sẽ làm gì. Nếu VNCH không hợp tác theo đề nghị, thì liên hệ ngoại giao Hoa Kỳ sẽ gặp khó khăn và bị tổn thương, nhưng phía VNCH sẽ bị tử thương. Xin viết thêm một chút về tướng Haig: Năm 1975 Haig mang cấp bậc đại tướng và là Tư Lệnh NATO. Trước những cuộc tấn công ồ ạt của CSBV, Haig viết một lá thư cho Kissinger, đề nghị phải trả đũa ngay lập tức. … Ngăn chận CSBV “không phải để bảo vệ VNCH nhưng để bảo vệ sự vẹn toàn cho những hiệp ước mà Hoa Kỳ đã ký và sẽ ký trong tương lai.” Ðọc Nguyễn Phú Ðức, sđd, trang 364. Những lần trao đổi giữa TTT và Haig, được ghi lại trong hồi ký của tướng Haig, Inner Circles: How America Changed the World. A Memoirs.

Trưởng Sở CIA Thomas Pogar nói lên sự vô lý về hành vi của Hoa Kỳ (ít ra là qua hành vi của Kissinger) trong cuộc thương nghị: trong khi Hà Nội thông báo cho nhân sự ở hạ tầng cơ sở thấp nhất biết mọi chi tiết và diễn biến của cuộc thương lượng. Trong khi phía Hoa Kỳ thì chỉ có một số tối thiểu thẩm quyền tối cao mới biết được diễn tiến của cuộc thương lượng. Ðọc Ahern, sđd, trang 119. Lời hứa của Kissinger về số tiền bốn tỉ mỹ kim tái thiết hậu chiến cho miền Bắc, là một trong nhiều thí dụ về sự che dấu của Kissinger và Nixon với Quốc Hội Mỹ: Quốc Hội Mỹ biết được hứa hẹn đó qua một khám phá tình cờ và rất tức giận với những hứa hẹn không có thẩm quyền của quốc hội. Về chuyện này, đọc Randall B. Woods, Fulbright: A Biography.

Lewis Sorley, Reassessing ARVN (A Lecture Delivered at the Vietnam Center, Texas Tech University , 17 March 2006), trang 18
Trung Tướng Trần Văn Ðôn viết trong Việt Nam Nhân Chứng, lúc Trung Tướng Dương Văn Minh nhận định về tánh tình và tư cách chính trị của các quân nhân trong Hội Ðồng Quân Ðội Cách Mạng, ông chỉ vào Thiếu Tướng Thiệu và nói, “Ông này thì làm chánh trị và lãnh đạo được.” Ðối với Trung Tướng Ðôn, ông Minh phán, “Ông có quá nhiều tình cảm để làm chính trị.”
Nếu để ý, chúng ta thấy ông Thiệu lần lần “triệt tiêu” các sĩ quan thâm niên về quân vụ và cấp bậc hơn ông. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao viết trong hồi ký (Một Kiếp Người, trang 172-73), là đích thân ông Thiệu cho ông 100.000 đồng và đề nghị ông giải ngũ, rồi Hội Ðồng Tướng Lãnh sẽ giúp ông ứng cử nghị sĩ. Sau tướng Cao là đến Thiếu Tướng Ðỗ Cao Trí (lên tướng tháng 7-1963). Trung Tướng Nguyễn Hữu Có (lên tướng cùng ngày với ông Thiệu) là người cuối cùng bị lưu đày. Tướng Có là một tiểu đoàn trưởng, ông Thiệu là trưởng Ban 3, khi hai người đóng chung ở Tiểu Khu Hưng Yên, 1952-53.
Xem phóng ảnh 4-2, cam kết giữa ông Thiệu và các tướng lãnh trong Hội Ðồng Quân Lực. Theo tướng Cao Văn Viên, người soạn thảo bản cam kết là Trung Tướng Nguyễn Ðức Thắng.
Sau khi đắc cử, luật sư Nguyễn Văn Lộc được bổ nhiệm thủ tướng như cam kết. Tuy nhiên, khi báo chí loan báo tổng thống và phó tổng thống sẽ xuất hiện chung trên hệ thống truyền thanh để “ra mắt” với dân chúng, một phụ tá của TTT cho biết, như là một tổng thống, ông Thiệu sẽ xuất hiện theo lịch trình ông muốn, và với những người ông muốn. Qua hành động đó, ông Thiệu không chỉ khôn vặt.

Ðại tướng Creighton Abrams, trong một buổi họp với các tướng lãnh của Bộ Tư Lệnh MACV vào tháng 1-1969, đã phàn nàn về tư cách của TTT khi ông thường xuyên mời tướng Ðỗ Cao Trí và Hoàng Xuân Lãm vào Dinh Ðộc Lập dùng cơm. Từ liên hệ thân mật đó, TTT trực tiếp ra lệnh, thông báo tin tức và huấn lệnh thẳng cho họ, bỏ qua hệ thống quân giai mà chính ông đã viết trong ra sắc lệnh. Tướng Abrams nói TTT đối xử như vậy thì “kẹt” cho tướng Cao Văn Viên (như là một Tổng Tham Mưu Trưởng), vì có những quân lệnh từ tổng thống trong khi tướng Viên chưa biết mà các tướng Tư Lệnh Vùng đã biết trước rồi. Ðọc Lewis Sorley, The Abrams Tapes. 1968-1972, trang, 106, 109, 114.

Quảng Trị thất thủ ngày 1 tháng 5-1972; TTT bổ nhiệm tướng Trưởng thay tướng Lãm ngày 3 tháng 5; TTT viết quân lệnh bắt tướng Giai ngày 12 tháng 5. Giọng văn trong quân lệnh của TTT rất bất công và thiên vị. Qua hai quân lệnh (phóng ảnh 5-1 và 6-1) chúng ta thấy TTT vẫn chưa chắc chắn với quyết định của ông:

Quân lệnh chỉ thị tái lập trật tự ở Vùng I đề tên người nhận là tướng Lãm, nhưng phía dưới trang sau cùng, TTT viết tay đề tên tướng Trưởng. Ðiều này cho thấy ngày 3 tháng 5, khi viết quân lệnh cho tướng Lãm, TTT đổi ý và bổ nhiệm tướng Trưởng. Nhưng ông không màn cho người thảo lại quân lệnh, mà dùng luôn bản văn, gởi cho tướng Trưởng. Nhưng tại sau buộc tội tướng Giai trong khi chính tướng Lãm là người phải chịu trách nhiệm. Vì sau hai tuần sau khi cộng sản tấn công vào Quảng Trị, tướng Lãm vẫn không nắm được tình hình, và cho đến ngày 13 tháng 4, ông mới từ Huế trên đường ra Quảng Trị để quan sát tình hình. Dọc đường ông chận một sĩ quan TQLC lại và yêu cầu người sĩ quan này tường trình cho ông diễn tiến cuộc tấn công đang xảy ra hơn 14 ngày rồi! Ðọc MX Ngô Văn Ðịnh, Chiến Thắng của Lữ Ðoàn 258/TQLC ở Quảng Trị, Tháng 4-1975, trong tuyển tập Hai Mươi Mốt Năm Chiến Trận của Binh Chủng TQLC Việt Nam . Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, trong The Easter Offensive of 1972, nói ông biết tướng Giai là một sĩ quan Nhảy Dù gan dạ và có khả năng chỉ huy. Và ông sẳn sàng nhận tướng Giai phục vụ lại với quân đoàn của ông. Ở đây người viết xin cảm ơn tiến sĩ Martin Loicano đã cung cấp một số tài liệu đến từ Bộ Tổng Tham Mưu VNCH và Phủ Tổng Thống, liên quan đến Huấn Lệnh bắt giữ Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai; và Huấn Lệnh cho Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm/ Ngô Quang Trưởng, tái lập trật tự ở Vùng I, sau khi Quảng Trị thất thủ.

Wednesday, October 7, 2009

Diễn Văn Trưởng Ban Tổ Chức


TƯỞNG NIỆM CỐ TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HOÀ
NGUYỄN VĂN THIỆU

(Ngày 3 Tháng 10, 2009)

Kính thưa Tổng Thống Phu Nhân
Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo
Kính thưa các bậc trưởng thượng cùng các bạn trong hàng ngũ Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà
Kính thưa quý đồng hương
Kính thưa quý vị

Tôi vô cùng cảm kích trước sự hiện diện đông đủ và trang trọng của quý vị trong buổi lễ tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của nền Đệ Nhị Cộng Hoà do chúng tôi cùng một số anh em đứng ra tổ chức hôm nay. Tôi xin thành kính cám ơn và trang trọng kính chào quý vị.

Kính thưa quý vị,

Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã vĩnh viễn ra đi từ 8 năm nay, và đây là lần đầu tiên chúng ta làm lễ tưởng niệm người ở tại đây, tại Thủ Đô của người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản ở Nam California. Năm này cũng là năm thứ 34 sau ngày Cộng Sản Bắc Việt xoá bỏ Hiệp Định Paris, xua quân tiến chiếm Miền Nam tự do, đặt ách toàn trị khắc nghiệt lên đầu cổ người dân Việt.
Ba mươi bốn năm dưới ách đô hộ của Cộng Sản Bắc Việt, và tám năm vắng bóng vị Tổng Thống mở đầu của nền Đệ Nhị Cộng Hoà, chắc cũng là thời gian tạm đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ, tìm lại giá trị thật sự của một chế độ chính trị đúng và tốt, cũng như giá trị của người lãnh đạo hết sức xứng đáng của chế độ đúng và tốt đó.
Chế độ chính trị của nền Đệ Nhị Cộng Hoà tựa trên căn bản con người là một nhân vị, một sinh vật linh thiêng, có văn hoá, có giá trị cao cả hơn tất cả các giống vật trên đời này. Từ căn bản triết lý đó, Việt Nam Cộng Hoà công nhận quyền tự do, hạnh phúc, bình đẳng của mọi người. Hiến Pháp Việt Nam Đệ Nhị Cộng Hoà, thành hình ngày 1 tháng 4, 1967, phân định rõ ràng ba quyền Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp. Tổng Thống, đứng đầu Hành Pháp, cũng như các Nghị Sĩ và Dân Biểu của Thượng và Hạ Viện của khối Lập Pháp đều do dân bầu lên qua những cuộc đầu phiếu tự do, thể hiện đúng tinh thần dân chủ thường thấy ở các nước tự do tiến bộ trên thế giới. Đứng đầu Tư Pháp là Tối Cao Pháp Viện với chín vị Thẩm Phán được Hành Pháp và Lập Pháp lựa chọn trong số những thẩm phán có nhiều uy tín, hiểu biết và kinh nghiệm trong nghề. Nhờ ở chế độ chính trị thích hợp đó mà đất nước của chúng ta được phát triển mạnh mẽ mặc dù chúng ta phải đương đầu với sự tấn công phá hoại không ngừng leo thang của Cộng Sản Bắc Việt. Ở những nơi Việt Nam Cộng Hoà làm chủ tình thế, dân chúng được ấm no, hạnh phúc, được hưởng quyền tự do dân chủ như người dân các nước tân tiến. Các bộ Y Tế, Xã Hội, Lao Động có đủ phương tiện và nhân sự để phục vụ cho đồng bào. Chúng ta có nhiều bệnh viện, trang bị tối tân, có nhiều bác sĩ, dược sĩ, cán sự y tế có đầy đủ khả năng để bảo vệ sức khoẻ cho đồng bào, không phải cho người đi ra nước ngoài vận động xin xỏ đồng hương giúp đở cứu trợ như ta thường thấy ngày nay. Ở địa hạt giáo dục, Việt Nam Cộng Hoà đạt được nhiều thành quả vô cùng tốt đẹp dù là đang trong thời kỳ chiến tranh.

Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp đã có ở mỗi quận, và Trung Học Tỉnh Hạt đã được xây dựng ỡ nhiều xã. Ở bậc đại học, ngoài các đại học nổi tiếng đã có ở Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt,, chúng ta đã có thêm các đại học cộng đồng Tiền Giang (Mỹ Tho) và Duyên Hải (Nha Trang) với hai đại học Quảng Đà và Qui Nhơn trên đà thành hình. Sự phát triển nhanh chóng của các trường Trung Tiểu học và Đại học đã đáp ứng nhu cầu học hỏi lớn lao của số người trong lứa tuổi đi học, đồng thời nâng cao phẩm chất của nền giáo dục quốc gia theo đúng tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng được ghi trong Hiến Pháp. Về quân sự, quân lực Việt Nam Cộng Hoà hùng mạnh nhất Đông Nam Á, đã bao lần chiến thắng quân Cộng Sản Bắc Việt trên nhiều chiến trường Miền Nam. Nhưng tất cả những gì làm nên bức tranh tốt đẹp đó bổng bị bôi xoá đi một cách phủ phàng, phi nhân và phi lý, bởi những thế lực ngoài tầm tay kiểm soát của quân dân Miền Nam trong những tháng ngày đen tối nhất của lịch sử. Vì quyền lợi của dân Mỹ, của nước Mỹ, vì sự tồn tại của một ông Tổng Thống, Hoa Kỳ đã bán đứng đồng minh Việt Nam cho Cộng Sản Hà Nội và Trung Cộng. Lúc đầu dư luận cứ đổ tội cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và những cộng sự viên của ông đã làm mất nước. Nhưng theo thời gian, nhiều tài liệu lịch sử được phơi bày, nhiều hồ sơ được bạch hoá, và người ta đã thấy rõ, trước lập trường “bốn không” của ông, những ai đã buộc Tổng Thống VNCH phải ký Hiệp Định Paris, những ai đã quyết định chấm dứt viện trợ cho VNCH, những ai đã nhắm mắt trước sự xâm lấn của CS Bắc Việt, những ai đã gây áp lực mạnh mẽ buộc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức? Câu trả lời bây giờ đã rõ. Cũng theo thời gian người ta càng thấy rõ bộ mặt thật của Cộng Sản Quốc Tế, Cộng Sản Trung Hoa và tay sai là Cộng Sản Hà Nội. “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”, lời nói đó của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được người dân ghi nhớ và kiểm nghiệm.
Người ta thấy rõ hậu quả tai hại hết sức lớn lao của chế độ toàn trị sai lầm mà đảng Cộng Sản đã áp dụng ở Việt Nam từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẫn trước kia, đến Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười gần đây, và Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng hiện giờ. Chưa bao giờ người dân vùng đông bằng sông Cửu Long đói rách, khổ sở như bây giờ. Cảnh nhiều học sinh bỏ học, cảnh nhiều cô gái bán mình cho người ngoại quốc, hay đi làm nghề bán trôn nuôi miệng chưa bao giờ tồi tệ đến như hiện nay.
Nông dân không còn ruộng để làm, công nhân bị chủ nhân toa rập với tổ chức chính quyền bốc lột đến xương tuỷ, ngư dân không còn ngư trường để làm ăn sinh sống, đồng bào thiểu số phải rời bỏ cao nguyên để đất đai lại cho Tàu làm chủ, cả một thảm trạng đau thương đổ xuống đầu người dân Việt. Đất đai dọc theo biên giới Việt Trung, Vịnh Bắc Việt, Biển Đông tất cả mất dần vào tay Trung Cộng, tình cảnh đất nước chúng ta chưa bao giờ nguy khốn bi đát như bây giờ. Tất cả đều chỉ vì Cộng Sản Bắc Việt, tay sai của Cộng Sản Trung Hoa, cúi đầu làm việc cho Tàu Cộng, thi hành một chánh sách cai trị hết sức ác nghiệt làm thiệt hại vô cùng cho tổ quốc và nhân dân.

Càng cảm nhận cái tệ hại của chế độ chính trị hiện tại của Cộng Sản BắcViệt, người ta càng thấy luyến tiếc chế độ Đệ Nhị Công Hoà. Chế độ cộng sản càng xấu xa thoái hoá bao nhiêu càng làm nổi bật cái tốt đẹp tiến bộ của chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà bấy nhiêu. Một bên là độc tài, toàn trị, áp chế người dân, tước đoạt mọi quyền tự do của con người, biến con người thành công cụ phục vụ cho Đảng Cộng Sản, nhất là làm giàu kinh khủng cho các đảng viên cao cấp. Một bên là dân chủ thực sự với tinh thần nhân bản, lấy con người làm cứu cánh, tôn trọng quyền làm người, tôn trọng tự do, hạnh phúc của mọi người. Chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà là như vậy, và đó là chế độ chính trị lý tưởng mà mọi người đều yêu thích và mong muốn.

Nghĩ đến Đệ Nhị Cộng Hoà là phải nghĩ đến những người đã sinh ra nó, và nhất là người lãnh đạo đã phát triển và bảo vệ nó trong suốt hai nhiệm kỳ Tổng Thống. Manh nha từ Đệ Nhất Cộng Hoà, chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà được phát huy tiến bộ hơn bởi những nhà Lập Pháp nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong tổ chức cơ cấu chính thể. Người quan trọng nhất, đắc cử Tổng Thống theo Hiến Pháp này, trong suốt hai nhiệm kỳ, từ 1967 đến 1975, đã kiên trì bảo vệ Hiến Pháp, tổ chức chính phủ theo cấu trúc của Hiến Pháp, phát triển đất nước theo đường hướng của Hiến Pháp, lãnh đạo dân quân cán chính đi đúng con đường tốt đẹp của chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Bảo vệ Hiến Pháp. là bảo vệ tự do hạnh phúc của người dân, bảo toàn lãnh thổ, và tất nhiên là phải mạnh dạn chống Cộng Sản đôc tài, chống sự đem đất nước và dân tộc Việt Nam làm đất nước và dân tộc bộ phận của Cộng Sản Quốc Tế, hay Cộng Sản Trung Quốc.


Kính thưa quý vị,

Tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hôm nay, chúng ta tưởng niệm vị Tổng Thống quan trọng của nền Đệ Nhị Cộng hoà, đã hết lòng hết sức trong suốt 8 năm trời, lèo lái con thuyền tự do, nhân bản của Việt Nam trong việc bảo vệ Hiến Pháp, phát triển đất nước theo con đường tiến bộ tốt đẹp của nhân loại.
Nhưng tưởng niệm không phải là chỉ để nhớ lại mà còn là để nhắc nhở chúng ta hãy kết hợp lại, củng cố chế độ chính trị tốt đẹp của chúng ta, gây ý thức về chế độ tốt đẹp đó trong các thế hệ về sau để khi có cơ hội trỡ về nước xây dựng lại chế độ tốt đẹp đó ở trong nước.
Chỉ có chế độ tốt đẹp đó mới có thể đem lại tự do, dân chủ, và hạnh phúc cho nhân dân, đưa nước nhà tới chổ tiến bộ, phồn thịnh, và mới có thể vận dụng được sức mạnh của toàn dân bảo vệ lãnh thổ chóng lại sự xâm lăng từ phương Bắc. Trong tinh thần đó chúng ta hãy cùng nguyện cầu hồn thiêng cố Tổng Thống linh ứng phù hộ cho đàn em vững vàng tiến bước trên con đường phục vụ cho đất nước và dân tộc.

Xin trân trọng cám ơn và kính chào quý vị.


Nguyễn Thanh Liêm, Ph.D.
Trưởng Ban Tổ Chức Lễ Húy Nhật VIII


Cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên, Việt Nam Cộng Hoà,
Chủ Tịch hội Lăng Ông – Lê Văn Duyệt Foundation
Chủ Biên Tập San Nghiên Cứu Văn Hoá Đồng Nai Cửu Long


Monday, October 5, 2009

Tổng Thống Thiệu Đã Thoát Chết Như Thế Nào ?


Tổng Thống Thiệu Đã Thoát Chết Như Thế Nào? TT Thiệu 6 Lần Suýt Chết Vì Các Âm Mưu Đảo Chánh, Ám Sát
Nguyễn Tiến Hưng


Đại Sứ Martin tráo máy bay để đưa Tổng Thống Thiệu ra khỏi Việt Nam... Nhân dịp kỷ niệm ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tạ thế, 29 tháng Chín, xin đặc biệt giới thiệu một số chi tiết về những ngày cuối của ông tại Việt Nam, trong khung cảnh nhiễu nhương của miền Nam đang hấp hối.

Tác giả là Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng tại một Đại học ở miền Đông Hoa Kỳ, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Ông có những quan hệ đặc biệt với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại sứ Graham Martin và sau 1975 đã thu thập dữ kiện, kể cả tài liệu sống của những người trong cuộc, để viết về thân phận Việt Nam Cộng Hoà. Sau cuốn "The Palace Files" bằng Anh ngữ xuất bản năm 1986, được Cung Thúc Tiến chuyển qua Việt ngữ, ông đã viết cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy" cho độc giả Việt Nam, xuất bản năm 2005.
Tài liệu kế tiếp là cuốn sách có tựa đề "Tâm Tư Tổng Thống Thiệu" sẽ xuất bản nay mai.

Đây là một phần trong Chương 18 của cuốn sách trên, liên hệ đến hoàn cảnh của Tổng thống Thiệu sau khi phải từ chức và ra khỏi Việt Nam. Chúng tôi xin cảm tạ tác giả và xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả...
THOÁT CHẾT LÚC RA ĐI Đám đông đứng dọc đại lộ ngước lên nhìn những chiếc phản lực xé mây tung cánh sắt. Trên đài danh dự, quan khách chăm chú theo rõi cuộc duyệt binh vĩ đại. Các binh chủng trong những bộ quân phục đủ mầu theo nhau diễn hành.

Từng lớp rồi lại từng lớp, xe tăng thiết giáp lừ lừ lăn bánh, trông thật oai hùng. Bất chợt, một chiếc xe dừng lại ngay trước khán đài. Viên sĩ quan chỉ huy bước xuống, rồi đứng vào thế nghiêm giơ tay chào. Người chủ tọa ngồi ghế giữa đứng lên để chào lại. Nhưng ông vừa đứng lên thì tiếng súng nổ đùng đùng, một loạt đạn bắn xả vào hàng ghế danh dự. Đó là quang cảnh tại Cairô vào ngày 6 tháng 10, 1981. Hôm ấy là ngày Ai Cập kỷ niệm chiến thắng Do Thái năm 1973. Tổng thống Anwar El Sadat hãnh diện chủ tọa cuộc diễn binh với những khí giới tối tân nhất. Khi ông đứng lên để chào người sĩ quan, những kẻ sát nhân từ trong xe nhảy bổ ra hô lên thật to "Death to Pharaoh," (Chết cho Pharaô) rồi bắn ông ngã gục. Cùng chịu số phận với ông là một số quan khách, gồm cả Đại sứ Cuba, một tướng lãnh, và một giám mục.
Ngồi xem tivi chiếu cảnh này buổi sáng hôm ấy, chúng tôi giật mình nhớ lại câu chuyện Tổng thống Thiệu kể chỉ mới gần một năm trước đó. Ông kể rằng vào ngày Quân Lực năm 1974 (20 tháng Sáu), ông rất ưu tư về nguy cơ bị hạ sát trong lúc duyệt binh. Mà cũng dễ thôi, vì ông phải ngồi ngay trên khán đài để duyệt từng đoàn quân với đầy đủ vũ khí các loại, trên không thì A-37, F5 bay rợp trời, làm sao mà kiểm soát cho hoàn toàn được là tất cả vũ khí đều không có nạp đạn như luật lệ về diễn binh quy định? Nếu có âm mưu ám sát thì chỉ cần gài một vài người ăn mặc quân phục đeo súng có nạp đạn đi lẫn vào đoàn quân diễn hành là đủ rồi. Trong Chương 21, chúng tôi có trích dẫn về dịp ông Thiệu đi duyệt binh một lực lượng năm ngàn nhân dân tự vệ đầy đủ võ trang đứng dàn chào. Ông nói với nữ ký giả Oriana Fallaci: "Muốn giết tôi thì chỉ cần một viên đạn đến từ một khẩu súng là xong." Đó là hè 1974. Đến mùa xuân 1975 thì có vụ ném bom Dinh Độc Lập.

Trong suốt thời gian lãnh đạo, ông Thiệu đã gặp nhiều nguy hiểm, nhưng vụ ném bom sáng ngày 8 tháng Tư là lần đầu tiên hành động sát hại trở nên rõ ràng và cụ thể. Lúc ấy tin đồn thổi về đảo chính âm ỷ từ ngày này sang ngày kia. Sau khi mất Đà Nẵng thì đêm đêm, chúng tôi cũng thấy có nhiều binh sĩ canh gác tại các hành lang Dinh Độc Lập. Dù sao, độ nguy hiểm của vụ ném bom tương đối cũng không cao lắm, vì khuôn viên tòa nhà này rất rộng, thả vài quả bom mà trúng đúng mục tiêu thì cũng khó: khi chiếc máy bay nhào xuống thả bom đợt đầu, hai quả đã rơi xuống khu sân vườn.
Tuy nhiên, chỉ hơn vài tuần sau đó, âm mưu ám sát lần cuối cùng đã có xác suất thành công rất cao. Xuýt nữa thì ông Thiệu đi về thế giới bên kia chứ không phải sang Đài Loan. Và nếu như vậy thì hằng năm Lễ Tưởng Niệm ông sẽ là ngày 25 tháng Tư chứ không phải 29 tháng Chín.

Chuyện này thì cho tới ngày tạ thế, chính Tổng thống Thiệu cũng không biết rõ. Bản thân chúng tôi cũng chỉ mới biết gần đây.
Đảo Chính, Đảo Chính! Theo như chuyện Tổng thống Thiệu kể lại và nghiên cứu thêm thì chúng tôi đếm ra cũng đã có tới ít nhất là sáu lần ông bị đe dọa, hoặc vì một lý do nào đó làm ông cảnh giác về đảo chính. Trước hết, để kiểm điểm lại những nguy hiểm trong thời gian ông lãnh đạo cho mạch lạc, chúng tôi xin nhắc lại vài trường hợp đã ghi trong cuốn KĐMTC: •Năm 1968 Nguy hiểm đầu tiên là vào dịp bầu cử Tổng thống Hoa kỳ năm 1968. Sau vụ ông tháu cáy với Tổng thống Johnson vào giây phút cuối (tuyên bố ngay trước ngày tuyển cử là không tham gia Hòa đàm Paris) để giúp ông Nixon thắng cử, chính phủ Johnson phẫn nộ và Bộ trưởng Quốc Phòng Clark Clifford đã tính lật đổ ông. Từ đảo chính tới sát hại thì cũng không bao xa, như đã xảy ra cho vị tiền nhiệm của ông. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn “The Price of Power,” sau khi đúc kết các tài liệu về vụ này đã tiết lộ rằng sau cuộc bầu cử 1968, chính ông Kissinger đã báo động cho phía Nixon về mưu đồ của Bộ trưởng Quốc Phòng Clifford và cảnh cáo: “Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận với ông Diệm thì tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm kẻ thù của Mỹ có thể là nguy hiểm, chứ làm bạn với Mỹ chắc chắn là chết” TT Thiệu kể lại rằng trên đường từ Dinh Độc Lập tới Quốc Hội, ông hết sức lo ngại có thể ông bị CIA ám sát nếu như TT Johnson và Phó TT Humphrey biết trước được là ông sắp sửa bác bỏ kế hoạch hòa bình của Hoa Kỳ và phá hoại cơ hội thắng cử của Humphrey. "Và nếu họ muốn ám sát tôi thì cũng dễ thôi. Rồi sau đó cứ việc đổ cho Việt cộng hoặc là do ‘âm mưu đảo chính.' ”

Khi kể về chuyện này, ông Thiệu cho rằng chính vì ông đã cưỡng lại áp lực của Mỹ lúc ấy mà kéo dài thêm đời sống của VNCH được gần sáu năm.

Năm 1972
Vào mùa thu 1972, sau khi ông Thiệu nhất định không chấp nhận ký Hiệp Định Paris, TT Nixon áp đảo tinh thần ông bằng cách nhắn khéo về đảo chánh. Trong bức thư đề ngày 6 tháng 10, 1972, Nixon viết: “Tôi yêu cầu Ngài cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968.” Richard Nixon. Biến cố năm 1963 là đảo chánh và ám sát Tổng Thống Diệm mà chính ông Thiệu đã tham dự. Còn biến cố 1968 thì đã đề cập trên đây: chính Nixon và Kissinger cực lực phản đối và cứu được ông Thiệu. Nhưng tới 1972 thì lại đến lần hai ông này đi theo con đường cũ. Về đe dọa của các ông Nixon - Kissinger thì hai chuyên viên trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia là Roger Morris và Anthony Lake đã viết cho Kissinger một phúc trình (ngày 21 tháng 10, 1972) trong đó có nói tới các phương cách lật đổ ông Thiệu. Sau này Morris xác nhận: “Tôi bảo Tony rằng hai đứa mình phải cho Henry hiểu rõ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu”.

Chắc là có mặc cảm về những đe dọa ấy nên sau này ông Kissinger cũng đã viết cho ông Thiệu, vào đầu năm 1980: “Giá như ý định của Tổng Thống Nixon và của tôi là phản bội Ngài, thì chúng tôi đã có thể làm như thế từ đầu năm 1969 rồi.”
•Năm 1973 Mặc dù có những lời đe dọa ghê gớm ấy, ông Thiệu vẫn chống đối không chấp nhận bản hiệp định. Nhưng khi ngày đăng quang nhiệm kỳ hai gần kề, Tổng thống Nixon muốn cho hình ảnh hòa bình chiếu sáng, ông không ngần ngại nói rõ hơn về việc đảo chánh. Ông viết cho ông Thiệu: “Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp Định vào ngày 23 tháng Giêng, và sẽ ký vào ngày 27 tháng Giêng, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc này dù phải làm một mình… Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của Ngài cũng không thể cứu vãn được…” (Thư ngày 14 tháng Năm, 1973). Trong ngôn ngữ chuyên môn về mối bang giao Hoa Kỳ-VNCH, “thay đổi nhân sự” là câu nói nhẹ, đồng nghĩa với việc đảo chính. Năm 1963, khi việc chuẩn bị lật đổ TT Ngô Đình Diệm đang tiến hành ráo riết, TT Kennedy, trong một buổi phỏng vấn với Walter Cronkite trên đài CBS, đã nhắc tới nhu cầu “thay đổi nhân sự.” Thông điệp ấy đã là tín hiệu ‘bật đèn xanh’ từ cấp cao nhất để cho tướng lãnh đảo chính.

•Ngày Quân Lực 1974 Về nguy hiểm vào ngày này như đã đề cập trên đây, chúng tôi hỏi Tổng thống Thiệu là tại sao trong ngày 20 tháng Sáu những năm trước cũng có duyệt binh mà ông không lo, chỉ có năm 1974? Ông Thiệu giải thích rằng sau Hiệp định Paris là tới lúc phải thành lập "Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc", một hình thức chính phủ liên hiệp với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Cộng Sản. Tiến bộ về việc này thì hầu như không có gì, và cuộc đàm phán ở La Celle St. Cloud gần Paris thì bị ngừng từ ngày 16 tháng Tư, 1974. Ông Kissinger rất bất mãn và đang gây áp lực cho ông Thiệu phải làm lẹ việc này.
Lúc ấy thì ông Kissinger rất mạnh vì ông Nixon như bị tê liệt vì vụ Watergate, sắp phải từ chức. Ông Thiệu biết rằng vào lúc ấy ông không là người lãnh đạo thích hợp với kế hoạch ‘hòa bình trong danh dự’ của hai ông Kissinger và Nixon, nên luôn đề cao cảnh giác về khả năng bị loại trừ. Sự việc này có thể cắt nghĩa được là tại sao sau Hiệp định Paris ông cho thiết kế một trung tâm chỉ huy dưới lầu hầm Dinh Độc Lập. Đây là nơi được trang bị đầy đủ với máy phát điện, đường điện thoại riêng biệt, đài phát thanh, rađiô liên lạc với tướng lãnh, một cái giường nhỏ và một cái gối mây. Tổng thống Thiệu rất cẩn thận, luôn luôn sẵn sàng để đề phòng những trường hợp biến loạn có thể xẩy ra.

•Ngày tám tháng Tư, 1975 Một quả bom thật to chọc thủng bãi trực thăng trên nóc Dinh Độc lập, lọt xuống rồi nổ tung. Ông Thiệu vừa ngồi xuống bắt đầu ăn tô phở ở một bàn nhỏ ngoài hành lang trên lầu bốn, cận vệ vội tới đưa ông vào ngay thang máy để xuống lầu hầm. Đầu tháng 4 là thời gian có nhiều chống đối từ mọi phía đòi ông Thiệu phải từ chức. Chúng tôi nghe vậy cũng ái ngại, nhưng thấy ông vẫn bình tĩnh, chỉ hơi cáu kỉnh khi nghe báo cáo về một số quý vị thuộc đảng Dân Chủ tại Quốc Hội đã quay lại chống ông. Về biến cố hôm ấy, bà Thiệu kể là trái bom lại rơi trúng ngay chỗ mỏng nhất của bãi trực thăng. Mùi khét tỏa ra khắp nơi khi những tấm thảm giầy bốc cháy dữ dội. Lúc ấy bà bị kẹt cứng trong phòng vì cháu bé người làm đang lo sắp xếp quần áo đã sợ quýnh lên, tay run lẩy bẩy, không tìm và mở được cái khóa vào cầu thang. Một lúc sau mới có sĩ quan đến giúp bà xuống hầm trú ẩn. Khói bay lên nghi ngút làm bà như ngạt thở.

•Ngày 21 tháng Tư, 1975 “Tôi sẽ nói cho ông Thiệu rõ tôi đã đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta không chịu từ chức thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này,” đại sứ Martin báo cáo (ngày 21 tháng Tư) cho Ngoại trưởng Kissinger về việc ông sẽ cố thuyết phục TT Thiệu từ chức. Ý ông đại sứ muốn nói là sẽ có đảo chính. Thoát chết lúc ra đi Sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, tân Tổng thống Hương vẫn để ông lưu lại trong Dinh Độc Lập. Nhưng rồi có nhiều áp lực đòi ông Thiệu phải rời khỏi Việt Nam, nếu không thì phía Cộng sản không chịu điều đình với “một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Nhân dịp có tang lễ Tổng thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Đại sứ Martin báo cáo về Washington:
"Ông Hương nói ông ta sẽ đề cử cả hai ông Thiệu và Khiêm làm Đại sứ Lưu động và gửi hai người sang Đài Loan mệnh danh là một phái đoàn đại diện ông để phúng điếu tang lễ ông Tưởng Giới Thạch. Tôi nghĩ rằng mọi chuyện đã được sắp xếp với phía Đài Loan." Thực ra, ngoài việc ông Thiệu phải ra đi để dễ hơn cho việc đàm phán về một giải pháp chính trị, Tổng thống Hương còn lo ngại cho sự an toàn của ông. Ông Đại sứ thêm: "Tổng thống Hương nói với tôi là ông ta lo ngại cho sự an toàn của cựu Tổng Thống Thiệu…
Bởi vậy ông Hương yêu cầu chúng ta giúp cho ông Thiệu ra đi thật kín đáo và sớm nhất có thể." Ngoài những mưu toan nguy hiểm cho ông Thiệu từ các phe phái, Tổng thống Hương còn để ý tới một khía cạnh cá nhân: sự bất hòa giữa hai tướng lãnh Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh. Sự bất hòa đã có mầm mống từ lâu và mọi người đều biết.
Như chúng tôi đã đề cập tới trong Chương 11, chính ông Thiệu đã cố vấn Tổng thống Hương là chớ đề cử Tướng Minh làm Thủ tướng vì sẽ rất nguy hiểm. Việc ông Minh không ưa gì ông Thiệu thì cũng đã công khai. Bởi vậy vào giờ chót, Tổng thống Hương muốn đưa ông Thiệu ra khỏi Việt Nam trước khi ông Minh lên nắm chính quyền. Ông Martin viết: "Tổng Thống Hương nhất quyết là ông Thiệu phải ra khỏi nước đã rồi lúc đó ông ấy mới đi tới quyết định cuối cùng là trao quyền cho ông Big Minh."
Đó là về sự cần thiết và thời điểm ra đi, nhưng còn cách ra đi thì làm sao cho được an toàn? Chi tiết chuyến đi của hai ông Thiệu và Khiêm từ Bộ Tổng Tham Mưu ra phi trường Tân Sơn Nhất thì nhân viên CIA là Frank Snepp đã kể lại và chúng tôi cũng có đề cập tới trong cuốn KĐMTC.

Ông Frank Snepp và một nhân viên khác là Joe đã giấu vũ khí dưới chỗ ngồi trong xe vì lo sợ tái diễn vụ sát hại như trường hợp hai anh em Tổng thống Diệm.
Mới đây, câu chuyện từ lúc Tổng thống Thiệu rời bỏ Dinh Độc Lập tới Bộ TTM và ra phi trường được Thiếu tá Nguyễn Tấn Phận kể lại rất chi tiết.
Ông Phận là một trong đoàn tùy tùng tám người (cuối cùng chỉ có bảy người) của Tổng thống Thiệu và bốn người của Thủ tướng Khiêm được Tổng thống Hương cho đi tháp tùng theo như yêu cầu của ông Thiệu. Diễn biến có thể tóm tắt như sau: "Vào khoảng 7 giờ 30 tối, Tổng Thống Thiệu thay bộ đồ bốn túi trong phòng ngủ rồi qua phòng nhỏ bên cạnh nghiêng đầu qua cửa sổ nhìn xuống. Dưới sân, bên cạnh thềm tam cấp một xe Mercedes mầu xanh đậm đã đậu sẵn.

Người lái xe là Đại Tá Nhan Văn Thiệt. Thấy mọi việc đã sẵn sàng, Tổng thống Thiệu vội vã rút trong hộc tủ cây Browning đã lắp đạn, ông khóa chốt an toàn rồi cho vào túi áo. Ông xuống tầng trệt bằng thang máy. Khi cánh cửa mở ra thì Đại Tá Trần Thanh Điền đã túc trực tại đó. Ông vừa bước xuống bậc tam cấp thì lại cũng vào lúc có hai binh sĩ (tên là Sanh và Khình) xuất hiện làm ông giật mình.

Thực ra là họ chỉ đến để đổi gác. Ông Thiệu và ông Điền lanh lẹ bước vào xe. Đại tá Điền ngồi bên phải của Tổng thống Thiệu ở băng sau. Như vậy là ông Điền đã ngồi vào chỗ chánh thức của Tổng thống và chịu làm Lê Lai cứu Chúa! Vừa ngồi vào xe, ông Thiệu hỏi ‘có mấy cây súng?’ Đại tá Điền đáp: ‘có hai cây, một cây dài, một cây ngắn.’"
Theo như vậy thì vào lúc đó Tổng thống Thiệu đã nhận thấy ông bị nguy hiểm trên đường tới Bộ Tổng Tham Mưu (ta nhớ lại là Tổng thống Diệm đã bị sát hại trên đường tới Bộ TTM). Việc ông Điền ngồi vào chỗ chính thức của Tổng thống thì cũng trùng hợp với câu chuyện ông Thiệu kể cho chúng tôi là khi đi xe tới dự nghi lễ bên Quốc Hội hay nơi khác, ông thường ngồi ngay bên cạnh tài xế lái xe chứ không ngồi chỗ dành cho tổng thống ở băng sau.

Khi đoàn xe tới phi trường Tân Sơn Nhất, Thiếu tá Phận kể lại là đã "giật mình khi nhận ra cả khu vực phi trường tối om. Dường như hệ thống điện hoàn toàn bị cắt… Đoàn xe chạy vòng qua khu dành riêng cho hãng Air America của cơ quan tình báo Mỹ. Khi sắp tới đường băng, tất cả xe đều tắt đèn di chuyển trong bóng đêm. Sau đó một chiếc máy bay lù lù hiện ra dưới chân trời nhờ đèn trong buồng máy cháy sáng, một loại máy bay giống như DC6.

Khi tới gần chiếc máy bay, đoàn xe bất thần thắng gấp vì thấy có bóng người… Xe Tổng thống Thiệu bị bao vây bởi ba chiếc xe Chevrolet to lớn. Xa xa trong bóng đêm, xung quanh chúng tôi xuất hiện nhiều người Mỹ vạm vỡ, vận thường phục, súng M16 dựng đứng bên hông, trong thế tác chiến. Rồi hình ảnh ông Đại sứ Graham Martin hiện ra tại chân cầu thang máy như một vị thần hộ mạng."
Chuyện này làm cho chúng tôi mới hiểu được tại sao khi nói về chuyến ra đi của Tổng thống Thiệu, Đại sứ Martin cứ nói úp úp mở mở là "Ông Thiệu đã ra đi trong điều kiện hết sức khó khăn," và "chúng tôi đã để ý và cố gắng sắp xếp mọi chi tiết." Thì ra, mọi chi tiết được sắp xếp gồm cả việc cắt điện để phi trường tối om và việc đoàn xe phải di chuyển trong bóng đêm.

Khi máy bay đáp xuống thì đã có sẵn một toán lính Mỹ canh gác để đề phòng những biến động có thể xẩy ra vào phút chót, thí dụ như việc ngăn chận không cho máy bay cất cánh. Vì sao như vậy? Vì một việc xẩy ra trước đó mấy ngày. Vào lúc 10 giờ đêm ngày Chủ nhật 20 tháng Tư t ại Tân Sơn Nhất, một nhóm binh sĩ với võ trang nặng bao vây, định ngăn chận chiếc C-141 của Mỹ chở người di tản không được cất cánh (xin xem Chương 7).
Thiếu tá Phận cũng kể lại là "Trung tá Nguyễn Phú Hiệp, phi công chiếc máy bay Air Viet Nam 727 có lệnh ứng trực, chuẩn bị sẵn sàng, chỉ dành riêng cho Tổng thống Thiệu sử dụng… và cũng vào thời gian này thì một vài đơn vị trưởng các đơn vị phòng thủ thủ đô, và các đơn vị đóng quân gần khu vực phi trường Tân Sơn Nhất lại được nghe dư luận rỉ tai là 'ông Thiệu sẽ dùng Air Viet Nam để ra khỏi nước.' ” Thật rõ ràng là lệnh cho phi công Hiệp ứng trực chiếc máy bay Air Viet Nam 727 và tin đồn về ‘ông Thiệu sẽ dùng Air Viet Nam ra khỏi nước’ là những sắp xếp để đánh lạc hướng những kẻ mưu sát vì khi đó ông Martin đã nhận được nhiều thông tin tình báo về âm mưu sát hại ông Thiệu ở ngoài khơi.

Theo kế hoạch này thì chiếc máy bay Air Vietnam mà ông Thiệu định dùng để ra đi sẽ bị bắn rơi khi ra khỏi không phận Việt Nam. Bởi vậy, trong vòng bí mật, ông Martin đã gọi ngay chiếc máy bay riêng của mình từ Thái Lan sang Tân Sơn Nhất để bốc ông Thiệu. Để bảo mật tối đa thì dù có dùng điện thoại đặc biệt an toàn của tòa đại sứ để báo cáo về Tòa Bạch Ốc, ông Martin cũng vẫn không tiết lộ chi tiết mà chỉ nói mập mờ. Tuy nhiên, lúc tới sát nút rồi thì ông phải nói cho rõ.


Mời độc giả theo dõi vài đoạn trong thông điệp ngày 25 tháng 4 (in kèm chương này) của đại sứ Graham Martin gửi về Tòa Bạch Ốc:
Số 250420 - Chỉ mình ông xem và qua đường giây Martin Sàigòn số 0736 - FLASH (Cấp tốc) Chuyển Ngay Ngày 25 tháng 4, 1975 Gửi tới: Tướng Brent Scowcroft (Phụ Tá An Ninh Tổng Thống Ford) “Thông điệp này xác nhận câu chuyện tôi nói vòng vèo qua điện thoại vừa mới đây.

Lúc muộn chiều hôm qua, Tổng thống Hương nói với tôi là ông ta lo ngại cho sự an toàn của cựu Tổng Thống Thiệu. Nói chung, dường như ông ta cũng đã biết về một thông tin mà chúng tôi đã nhận được nhiều lần, đó là có một số phần tử của Không Quân Việt Nam là những người có ý kiến hết sức chống đối Thiệu và Khiêm, đã nói rằng hai ông này sẽ không rời khỏi Việt Nam mà còn sống nguyên vẹn (gạch dưới là do tác giả). Chúng tôi biết rằng những phần tử này đang để ý chiếc máy bay thường dùng để chuyên chở các nhân vật cao cấp VIP của chính phủ đi ngoại quốc...
“Tôi đã xếp đặt với Tướng Hunt ở NKP (Nakhom Phanom, Thái Lan) để ông ta gửi một chiếc C-118 tới Sàigòn sẵn sàng chiều nay. Chúng tôi cũng sẽ sắp xếp hết sức kín đáo để đưa hai ông Thiệu và Khiêm lên máy bay và cất cánh thật nhanh.

Chúng tôi đã suy nghĩ về việc này và chúng tôi chắc chắn rằng sẽ có thể làm hết sức nhanh để nếu có sự can thiệp nào thì chiếc máy bay đó cũng đã (cao bay xa chạy) ra quá tầm có thể truy kích được rồi...
"Bởi vậy, trừ phi có chỉ thị ngược lại và ngay tức khắc từ chính ông Ngoại Trưởng, tôi sẽ tiến hành theo như trình bày trên đây. Ông Bộ trưởng không cần phải có hành động nào vào lúc này, trừ khi có người đặt vấn đề (tại sao lại) dùng máy bay quân sự, một điều tôi nghĩ khó có thể xẩy ra.… Trân trọng Martin Về việc này chúng tôi có hỏi Đại tá Nguyễn Quốc Hưng hiện ở Salem, Oregon.

Khi đó, ông là Phó Trưởng phòng Đặc trách Khu trục, thuộc Phòng Tham Muu Phó Hanh Quan tại Bộ Tư lệnh Không quân. Ông Hưng xác nhận là có chuyện này va nay vẫn còn nhiều nhân chứng. Chúng tôi hy vọng quý vị còn lại trong Không quân có thể giúp thêm chi tiết xác thực, nơi đây thì chỉ có thể trình bày lại ý kiến của Đại tá Hưng.
Ông Hưng cho biết là có một nhóm trong Không Quân thực sự có âm mưu này và đã theo sát chiếc máy bay Boeing 727 là chiếc lãnh đạo cao cấp thường dùng trong những chuyến đi xuất ngoại. Sau cùng thì họ giao cho một sĩ quan ở Cần Thơ thuộc Sư Đoàn 4 Không Quân lo việc này.

Ở phi trường Cần Thơ có loại máy bay khu trục A-37 và cả phản lực F5. Kế hoạch là tại Tân Sơn Nhất có những người được chỉ định theo rõi thật sát các chuyến bay, đặc biệt là chiếc Air Vietnam Boeing 727. Khi nào thấy hai ông Thiệu và Khiêm lên máy bay thì sẽ báo cho Cần Thơ để phản lực cất cánh bay thẳng ra khơi và sẽ bắn rơi chiếc máy bay chở ông Thiệu và ông Khiêm, ở khoảng 100 cây số cách bờ biển.

Nếu như vậy thì cũng chẳng có tang tích, chẳng có chứng cớ gì về vụ sát hại. Trừ một số người rất nhỏ trực tiếp dính líu thì không ai biết tin tức gì về việc này. Lúc ấy là đêm 25 rạng ngày 26 tháng Tư rồi, khi dầu sôi lửa bỏng đã lên tới cực điểm, mọi người chỉ còn có thể lo cho chính bản thân, nên cũng chẳng ai để ý tới chuyện gì xảy ra cho ông Thiệu. Đại tá Hưng cũng cho biết lúc ấy ở ngoài khơi cũng có những máy bay luôn luôn thay nhau theo dõi. Chúng tôi hỏi ông xem nhóm người nào ra lệnh cho phi công ở Cần Thơ? Ông trả lời là do một phe nhỏ chống ông Thiệu ở ngay Bộ Tư Lệnh Không Quân.

Đại tá Hưng thêm rằng: về vấn đề đảo chính nói chung thì chính hai Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Ngọc Loan đều không đồng ý và đã khuyên không được làm như vậy.
Sau cùng thì hai ông Thiệu, Khiêm lại không đi chuyến Boeing 727 mà đi chiếc C-118 của Đại sứ Martin. Đại tá Hưng kể là vài ngày hôm ấy cứ thấy Đại sứ Martin ra ra vào vào phi trường Tân Sơn Nhất. Tối muộn cùng ngày 25 tháng 4, 1975, ông Martin báo cáo về Tòa Bạch Ốc: Số 251510Z - Chỉ mình ông xem và qua đường giây Martin Sàigòn - C738 - Cấp tốc Chuyển ngay Ngày 25 tháng 4, 1975 Gửi tới: Tướng Brent Scowcroft Người gửi: Đại sứ Graham Martin Tham chiếu: Sàigòn 0736 1. Vào lúc 9 giờ 20 phút chiều nay, một chiếc C-118, có đuôi số 231 đã cất cánh từ Tân Sơn Nhất cùng với cựu Tổng thống Thiệu và cựu Thủ tướng Khiêm.

Họ đã bay sang Đài Loan nơi mà anh ông Thiệu làm đại sứ VNCH. Công việc sắp xếp rất xuôi xẻ. Tôi đã tháp tùng họ lên máy bay và tôi cho rằng sự vắng mặt của họ ở đây sẽ giảm bớt được sự xôn xao có thể xẩy ra.
2. Chúng tôi sẽ không bình luận gì về việc này ở đây. Phi hành đoàn từ NKP (Nakhon Phanom, Thái Lan) bay chiếc C-118 của tôi tới Davis-Montohn và tới nơi nghĩa trang. Tôi nghĩ rằng hai ông cũng sẽ không tuyên bố gì cả trừ phi và cho tới khi chuyện này lộ ra ở Đài Loan. Trân trọng, Martin Khi chiếc máy bay có đuôi số 231 sửa soạn cất cánh, Đại sứ Martin đã có mặt tận cửa máy bay để tiễn ông Thiệu.

Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu vẫn đi thủng thẳng, cố giữ phong độ. Ông quay lại cám ơn ông Martin đã dàn xếp chuyến đi. Với một giọng xúc động, ông Martin đáp lại: “Thưa tổng thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc ngài may mắn.”
Nhìn lại lịch sử thì thấy ông Thiệu đã thật may mắn. Không những chính ông, ông Khiêm mà cả chuyến Air Vietnam 727 cũng may mắn. Nếu như không có sự can thiệp của ông Martin thì những người khác cũng đã cùng chịu chung một số phận. Đó là phi công Hiệp, các nhân viên khác trong phi hành đoàn, và 12 người trong phái đoàn của cựu tổng thống và thủ tướng, họ đều đã bị chôn vùi dưới đáy biển cùng với chiếc Boeing 727. Trong số này có Đại tá Cầm, Chánh Văn Phòng và là người chúng tôi làm việc gần gũi, có Đại tá Đức, người đã ôm hồ sơ mật Dinh Độc Lập đưa đến tư gia trao chúng tôi vào đêm ngày 22 tháng Ba.

Rồi cả Thiếu tá Phận, người vừa kể lại câu chuyện về những ngày cuối của TT Thiệu ở Sàigòn. Những người khác gồm mấy sĩ quan gần gũi Tổng thống Thiệu (Đại tá Điền, Thiệt; Trung tá Chiêu, Bác sĩ Minh, Đại úy Hải, và binh sĩ Nghị); và phái đoàn của Thủ tướng Khiêm (Trung tá Châu, Thiếu tá Thông, và ông Đăng Vũ).


NGUYỄN TIẾN HƯNG